Trà Lĩnh tiếp tục nâng cao hiệu quả phát triển giáo dục- đào tạo

Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương, sự nỗ lực của các cán bộ, giáo viên và học sinh, cùng sự quan tâm đầu tư của toàn xã hội, ngành giáo dục - đào tạo huyện Trà Lĩnh đã có những bước tiến đáng kể, đóng góp quan trọng vào quá trình nâng cao dân trí của địa phương.
Trà Lĩnh tiếp tục nâng cao hiệu quả phát triển giáo dục- đào tạo
  Mạng lưới trường, lớp trên địa bàn huyện được duy trì, củng cố và tiếp tục phát triển tương đối hợp lý, phù hợp với đặc điểm tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của huyện. Hiện nay, trên toàn huyện có 34 trường học gồm: 10 trường mần non, 11 trường tiểu học, 09 trường trung học cơ sở, 01 trường Dân tộc nội trú, 02 trường Trung học phổ thông, 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên Hướng nghiệp dạy nghề. Năm học 2013 – 2014, tổng số học sinh các cấp trong toàn huyện có 4.169 học sinh, trong đó 4.102 học sinh dân tộc, tỷ lệ ra lớp đạt 99,6 %.
Huyện đã tập trung mọi nguồn lực đầu tư xây dựng các trường, lớp học ở các cấp học theo hướng kiên cố và bán kiên cố hóa, tình trạng học sinh lớp ghép tại một số phân trường ở cấp Tiểu học, mầm non vẫn còn tồn tại, lớp học 2 ca không có. Tỷ lệ trẻ em đúng độ tuổi đến trường ở các cấp học đều tăng.

Chất lượng giáo dục - đào tạo được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ học sinh của huyện sau khi tốt nghiệp THPT thi đỗ thẳng vào các trường Đại học, Cao đẳng ngày càng tăng. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT hàng năm đạt từ 98,8 % trở lên. Tỷ lệ học sinh lên lớp của các cấp học duy trì ở mức cao: Tiểu học 98,6 %, Trung học cơ sở 93,6 %, Trung học phổ thông 97,2 %. Đã hoàn thành Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, giữ vững phổ cập Trung học cơ sở, huyện đang ra sức phấn đấu hoàn thành phổ cập GD MN cho trẻ 5 tuổi vào năm 2014. Toàn huyện có 04 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ I.
         
Trong 5 năm học, từ năm học 2009 – 2010, đến năm học 2013-2014, toàn huyện có 27 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, 415 giáo viên dạy giỏi cấp huyện.

Từ năm 2009 đến nay, huyện đã xét cử tuyển cho 14 em người dân tộc thiểu số đi học các trường Đại học, Cao đẳng. Đào tạo được 03 cán bộ cơ sở về nghiệp vụ chuyên môn, quản lý nhà nước, lý luận chính trị, quản lý kinh tế.

Giữ vững thành quả giáo dục và đào tạo trong những năm trước, trong 5 năm qua, thông qua việc kết hợp thực hiện nhiều biện pháp nghiệp vụ, huyện đã duy trì được tỉ lệ học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học trung bình đạt 99,8% (trong đó học sinh Khá - Giỏi là 52%) và kết quả tốt nghiệp Trung học cơ sở đạt trên 99% (trong đó tỉ lệ học sinh Khá - Giỏi đạt 32,5%).

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác phát triển giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện Trùng Khánh còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc như: còn tình trạng học sinh bỏ học, nhất là học sinh ở các vùng đặc biệt khó khăn; tiến độ phổ cập giáo dục Mầm non ở một số địa phương còn chậm; việc huy động trẻ đến trường trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn; công tác xã hội hóa giáo dục ch­ưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra, sự đóng góp về kinh phí của các tổ chức, cá nhân, các nhà hảo tâm và nhân dân địa phương cho giáo dục còn rất hạn chế; một bộ phận giáo viên trình độ, năng lực chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới giáo dục...

Nhằm thực hiện mục tiêu, tiếp tục nâng cao dân trí, huyện đã xác định nội dung trọng tâm phát triển giáo dục -đào tạo địa phương trong thời gian tới là: Lao động trong độ tuổi người dân tộc thiểu số qua bồi dưỡng, tập huấn, đào tạo đạt trên 50%, trong đó 20% được đào tạo nghề; đảm bảo 100% có trường học kiên cố, nhà công vụ cho giáo viên và ký túc xã cho học sinh ở những nơi cần thiết; 96% trẻ em trong độ tuổi được đến trường; tỷ lệ lao động nông nghiệp khoảng 60% lao động xã hội.

Để khắc phục những khó khăn, tồn tại và thực hiện các nội dung trọng tâm phát triển giáo dục -đào tạo, huyện đã đề ra một số nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới gồm:

 Rà soát, bổ sung, điều chỉnh, tăng cường mạng lưới các trường, cơ sở đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi để tập trung ưu tiên đào tạo con em đồng bào dân tộc thiểu số; Củng cố, mở rộng quy mô hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, đảm bảo điều kiện sinh hoạt cho học sinh bán trú; Tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên là người dân tộc thiểu số; Bổ sung, kiến nghị với cấp trên về việc hoàn thiện các chính sách hỗ trợ cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn.

Chọn cử các cán bộ học tập và đào tạo tại các trường đại học để đào tạo đội ngũ trí thức, tạo nguồn cán bộ và phát triển nhân lực vùng dân tộc thiểu số; Nâng cao chất lượng hệ thống các trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề, sửa đổi, đề xuất kiến nghị bổ sung các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề phù hợp với năng lực; Đào tạo, bồi dưỡng thanh niên người dân tộc thiểu số đang tại ngũ để tạo nguồn cán bộ khi xuất ngũ về địa phương.

Đẩy mạnh công tác giáo dục, phổ biến tuyên truyền pháp luật vùng dân tộc thiểu số. Chú trọng đến công tác xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp là người dân tộc thiểu số.

Khuyến khích, vận động và tranh thủ các nguồn vốn hợp pháp trong và ngoài nước để tăng cường nguồn lực đầu tư cho giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số.

TN