Nghiên cứu ứng dụng tế bào sừng tự thân qua nuôi cấy điều trị phỏng sâu ở trẻ em

Các nhà khoa học ở trường đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch và bệnh viện Nhi đồng I-TP.HCM đã thành công trong hướng nghiên cứu ứng dụng tế bào sừng tự thân qua nuôi cấy điều trị phỏng sâu ở trẻ em. Kết quả nghiên cứu này bước đầu đã được ứng dụng thử nghiệm ở một số trường hợp phỏng nặng (tại bệnh viện Nhi đồng I-TP.HCM) giúp giải quyết được vấn đề thiếu da trong việc chữa trị các tổn thương mất da, và cho chất lượng sẹo khá tốt...
Nghiên cứu ứng dụng tế bào sừng tự thân qua nuôi cấy điều trị phỏng sâu ở trẻ em

Phỏng-dẫn đầu về tử vong

Trong nhóm các tai nạn thương tích nói chung (đuối nước, tai nạn giao thông, té ngã, ngộ độc...), phỏng là nhóm nguyên nhân đứng hàng thứ 5 về số trường hợp mắc phải tai nạn; nhưng là nhóm nguyên nhân dẫn đầu về tử vong cũng như di chứng. Tai nạn do phỏng gây nhiều tổn thất như mất khả năng lao động một phần hay toàn phần; tốn kém nhiều chi phí chữa trị; ảnh hưởng đến tâm lý; tàn tật... Đặc biệt, khi nạn nhân là trẻ em, nếu không may bị tàn tật sẽ ảnh hưởng tâm lý rất lớn cho chính bản thân người bệnh cũng như cho gia đình, và xã hội.

Trong chữa trị phỏng, việc ghép da tự thân được xem là “tiêu chuẩn vàng” để che phủ và tái tạo bề mặt vết thương. Nhưng hạn chế của hướng chữa trị là khi sử dụng loại da ghép này phải là da tự thân, lấy từ một vị trí khác trên chính người bệnh. Đối với các loại phỏng hoặc mất da trên diện rộng, thì không thể tiến hành lấy quá nhiều da ở các vị trí khác để điều trị.

Hiện nay đang có một số giải pháp chữa trị cho vấn đề phỏng sâu, rộng chẳng như sản phẩm che phủ, tái tạo bề mặt da có nguồn gốc sinh học (nguồn gốc từ người hay động vật); hay các màng tổng hợp hóa học (p HEMA, PPS...). Có nhiều ưu điểm trong hướng chữa trị này là màng ối, được xem như là một loại màng sinh học có khả năng kháng viêm, kháng khuẩn, kháng sẹo, kháng xơ hóa..., khả năng gây ra đáp ứng miễn dịch khi ghép rất thấp. Theo đó sự kết hợp giữa màng collagen từ màng ối và tế bào sừng tạo ra tấm tế bào sừng để che phủ vết phỏng và tái tạo da.

Công nghệ nuôi cấy tế bào là công nghệ hiện đại trong điều trị phỏng, tổn thương mất da, điều trị thẩm mỹ... Công nghệ này đã và đang được liên tục được nghiên cứu, cải tiến, hoàn chỉnh về quy trình công nghệ, môi trường nuôi cấy. Nhờ công nghệ nuôi cấy tế bào này mà nhiều nước trên thế giới đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc chữa trị phỏng, tổn thương mất da. Nhiều bệnh nhân bị phỏng sâu trên 70% nhờ công nghệ nuôi cấy tế bào mà đã được cứu sống, cũng như giảm thiểu đáng kể các di chứng do phỏng sâu để lại.

Riêng tại khoa phỏng bệnh viện Nhi đồng I-TP.HCM, trung bình hằng năm nhận khoảng 2.000 bệnh nhi. Trong đó 1/3 bệnh nhi có diện tích phỏng rộng từ 30% diện tích cơ thể trở lên, có không ít trường hợp phỏng đến 80-90% diện tích cơ thể. Nhóm bệnh này nguy cơ tử vong rất cao, nguy cơ tàn tật cũng rất cao, đồng thời mang di chứng ảnh hưởng nặng nề về thẩm mỹ.

Từ những nguyên nhân này mà nhóm nghiên cứu của PGS.TS.BS Trần Công Toại (trường đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch-TP.HCM), Th.S.BS Nguyễn Bảo Tường (bệnh viện Nhi đồng I-TP.HCM) đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng tế bào sừng tự thân qua nuôi cấy điều trị phỏng sâu ở trẻ em”.

Theo nhóm nghiên cứu thì đề tài này có 3 nội dung thực hiện là nghiên cứu xây dựng quy trình phân lập, nuôi cấy và tạo tấm tế bào sừng dùng cho ghép tự thân; xây dựng quy trình điều trị phỏng, các tổn thương mất da kết hợp liệu pháp ghép tế bào sừng tự thân sau nuôi cấy; xác định quy trình tối ưu điều trị phỏng và tổn thương mất da.

Các sản phẩm cụ thể có được từ đề tài này là tấm tế bào sừng; quy trình phân lập, nuôi cấy và tạo tấm tế bào sừng; quy trình ghép tế bào sừng tự thân sau nuôi cấy trong điều trị bỏng sâu ở trẻ em

Tỉ lệ bám dính 55,83%      

Theo PGS.TS.BS Trần Công Toại tế bào sừng chiếm 90% tổng số tế bào của lớp biểu bì da. Tế bào gốc biểu bì là một dạng tế bào sừng có tính gốc, chúng có khả năng tự đổi mới không có giới hạn và tạo ra những tế bào con có khả năng biệt hóa cuối cùng. Sau khi nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, tế bào sừng được ghép lên cơ thể bệnh nhân. Có hai dạng ghép tế bào sừng nuôi cấy là dạng tấm, hoặc huyền phù.

Trong phương pháp huyền phù, các tế bào được thu hoạch và xử lý trong suốt quá trình tái cấu trúc vết thương ở bệnh nhân. Với phương pháp tạo tấm, các tấm tế bào có thể được nuôi cấy trong 3-5 tuần sau khi lấy da, và sau đó ứng dụng ghép vào vết thương.

Tỉ lệ dung nạp mảnh ghép thay đổi khá lớn từ 0% đến hơn 80% ở người trưởng thành, và 50% ở trẻ em.     

Nhóm nghiên cứu của PGS.TS.BS Trần Công Toại, và Th.S.BS Nguyễn Bảo Tường đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng trên các bệnh nhân nhi phỏng nhiệt từ độ 3 trở lên, diện tích phỏng từ 10% cơ thể trở lên nhập viện khoa phỏng, bệnh viện Nhi đòng I-TP.HCM. Sau khi tiến hành ghép điều trị bằng tấm tế bào sừng tự thân qua nuôi cấy cho mục tiêu chữa trị phỏng sâu trên bệnh nhân nhi, nhóm nghiên cứu đã ghi nhận một số kết quả đáng chú ý như tấm nền tế bào sừng nuôi cấy đáp ứng tốt cho mục tiêu chữa trị tổn thương mất da ở trẻ em. Tất cả những trường hợp bệnh nhân nhi thực hiện nghiên cứu sau khi được ghép tấm tế bào sừng, đạt tỉ lệ bám dính là 55, 83% diện tích. Việc sử dụng tấm tế bào sừng nuôi cấy giúp làm giảm diện tích da cho để ghép, giảm đau hậu phẩu, cho sẹo mềm mại hơn so với kỹ thuật ghép da mỏng hiện đang sử dụng (tuy có tốt hơn sẹo do ghép da mỏng hoặc để lành tự nhiên, song sẹo vẫn còn phì đại, đỏ và ngứa). Việc cố định tấm ghép cũng còn gặp nhiều khó khăn...

Do quy trình điều trị tích cực đã giúp hồi sức tốt cho bệnh nhân, nên đã hạn chế nhiễm trùng tại chổ và nhiễm trùng huyết... nhờ vậy đã cải thiện tỉ lệ tử vong trong quá trình điều trị.

Nhóm nghiên cứu cũng ghi nhận việc lấy mẫu da sớm và ghép sớm trong khi tổng trạng bệnh nhân, và tình trạng nền ghép chưa tốt đã đã hạn chế tỉ lệ bám dính của tấm tế bào da nuôi cấy. Theo nhóm nghiên cứu để khắc phục những hạn chế vừa kể trên, qua đó thiết thực giúp cho bệnh nhân rút ngắn thòi gian nằm viện, cải thiện chất lượng sẹo... nhóm sẽ nghiên cứu thay đổi quy trình bằng cách chuẩn bị nền ghép tốt hơn, với nhiều đợt ghép da nuôi cấy...

Cũng theo nhóm nghiên cứu, để hướng ứng dụng này đạt chất lượng tốt hơn, hiệu quả hơn cho người bệnh, trong thời gian tới nhóm sẽ tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện thêm một số nội dung như nhộm màu cho tấm nền; ghép thêm tấm lưới sợi trên bề mặt tấm tế bào sừng; gửi mẫu nuôi cấy nhiều đợt; chọn thời điểm ghép muộn hơn...    

 

Nguồn tin: khoahocphothong.com.vn