Trang nhất » Tin tức sự kiện » Khoa học & công nghệ

Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất

Thực hiện Chỉ thị số 47-CT/TU ngày 11/7/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Cao Bằng về tăng cường công tác ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất và đời sống trên địa bàn tỉnh, sau hơn 05 năm thực hiện, công tác ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất và đời sống trên địa bàn tỉnh ta đã có những bước chuyển biến tích cực, khoa học kỹ thuật và công nghệ đã đóng góp tích cực vào việc nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa và dịch vụ; cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tiềm lực khoa học công nghệ được nâng lên. Quản lý nhà nước về KHCN tiếp tục được đổi mới góp phần thúc đẩy phát triển KT - XH và bảo vệ quốc phòng, an ninh tại địa phương.
Một số văn bản chữ Nôm Tày được sưu tầm, dịch, phiên âm... thuộc Đề tài Sưu tầm các văn bản chữ Nôm Tày ở Cao Bằng. Ảnh minh họa.

Một số văn bản chữ Nôm Tày được sưu tầm, dịch, phiên âm... thuộc Đề tài Sưu tầm các văn bản chữ Nôm Tày ở Cao Bằng. Ảnh minh họa.

Hiện nay, hoạt động KH&CN của tỉnh phần lớn được đầu tư từ ngân sách nhà nước, từ năm 2013-2018, tổng kinh phí đầu tư cho KH&CN trên 146,487 tỷ đồng, trong đó, kinh phí đầu tư phát triển 39,669 tỷ đồng, kinh phí sự nghiệp KHCN trên 106,818 tỷ đồng, vốn Trung ương hỗ trợ dự án Hoàn thiện công nghệ sản xuất sắt xốp và nghiên cứu sử dụng sắt xốp để luyện một số thép hợp kim phục vụ kinh tế và quốc phòng là 72,925 tỷ đồng. Theo đó, hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN đã đạt được một số kết quả nhất định, cụ thể:

Trong lĩnh vực nghiên khoa học xã hội và nhân văn: Tiếp tục nghiên cứu để góp phần giải quyết các vấn đề xã hội của địa phương, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, duy trì ổn định an ninh trật tự, cung cấp luận cứ cho xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Với các đề tài như: Sưu tầm các văn bản chữ Nôm Tày ở Cao Bằng; xây dựng và đưa các làn điệu dân ca dân tộc Tày, Nùng tỉnh Cao Bằng vào giảng dạy; Các giải phảp bảo tồn và phát huy giá trị dân ca dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao tỉnh Cao Bằng; Nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong vùng đồng bào dân tộc Mông tỉnh Cao Bằng...

Trong lĩnh vực Y tế: Đã đẩy mạnh áp dụng các phương pháp kỹ thuật mới trong công tác khám chữa bệnh, tư vấn, chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng. Từ 2013 đến năm 2017, ngành Y tế có 01 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, 47 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, 230 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở và 277 sáng kiến, giải pháp hữu ích, đã góp phần nâng cao chất lượng công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

Ngành KH&CN đã và đang triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, bảo tồn, phục tráng một số giống lúa đặc sản địa phương (nếp Pì Pất, nếp Hương, nếp Ong).

Lĩnh vực nông nghiệp: Tổ chức triển khai trên 50 mô hình trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, khuyến nông được triển khai với hơn 1600 hộ nông dân tham gia và hưởng lợi từ mô hình. Tiêu biểu như: Mô hình sản xuất lúa ĐS1, quy mô 10 ha tại xã Dân Chủ, huyện Hòa An, được cấy theo phương pháp "hàng biên" đã giúp cho cây trồng sinh trưởng, phát triển khỏe, thân to, mập, bông chắc và mẩy hơn so với lúa cấy truyền thống, năng suất trung bình đạt 45 tạ/ha, cao hơn 1,3 tạ/ha với với năng suất lúa bình quân của tỉnh (43,7 tạ/ha); Mô hình sản xuất giống gia cầm tại TP Cao Bằng, huyện Hà Quảng, hỗ trợ trên 4.000 con vịt bố mẹ SPM, 2 máy ấp, 2 máy nở, kết quả vịt con ấp nở khỏe mạnh, tỷ lệ sống đạt 90,4%, vịt sinh trưởng phát triển tốt, trung bình vịt đực nặng 3kg/con, vịt cái nặng 2,6kg/con...; Mô hình sản xuất lạc giống tại huyện Hà Quảng với diện tích hơn 146 ha, năng suất tươi đạt 44 tạ/ha, năng suất khô đạt 22 tạ/ha, sản lượng lạc giống đạt 321 tấn. Ngoài ra, còn rất nhiều mô hình ứng dụng KHCN, sử dụng giống mới được đưa vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng của cây trồng, vật nuôi như: Cây thuốc lá, năng suất đạt 22,1 tạ/ha (tăng 2,2 tạ/ha), sản lượng 8.012 tấn (tăng 1.360 tấn) so với năm 2013; Cây mía, năng suất đạt 612 tạ/ha (tăng 23 tạ/ha so với năm 2013); Sản lượng lương thực có hạt đạt 273,8 nghìn tấn (tăng 16,4 nghìn tấn so với năm 2013)...giá trị sản phẩm trồng trọt, thủy sản trên 1 ha tăng từ 33 triệu đồng/ha năm 2013 lên 37 triệu đồng/ha năm 2017.

Lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác: Đã nghiên cứu, xây dựng quy trình trong bảo quản chế biến nông sản phục vụ nền sản xuất nông nghiệp, bước đầu đem lại hiệu quả tích cực góp phần nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm nông lâm sản, cụ thể: Đã nghiên cứu hoàn thiện các quy trình công nghệ về chế biến sản xuất sản phẩm từ cây tảo lục ăn được, hà thủ ô, dong riềng; hoàn thiện quy trình chế biến tạo một số sản phẩm chè đặc sản từ các giống chè mới tại Phia Đén. Trong công nghiệp nặng, đã quan tâm các giải pháp kỹ thuật công nghệ và quản lý nhằm giảm tổn thất tài nguyên và ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác một số khoáng sản trọng điểm trên địa bàn tỉnh.

Đẩy mạnh liên kết 4 nhà (Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông) trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế, hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, tỉnh đã tập trung triển khai các mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, xây dựng thành công các mô hình: lúa nếp Hương Xuân Trường Bảo Lạc; lúa Pì Pất tại Thành phố Cao Bằng; phục tráng giống, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật canh tác, xây dựng nhãn hiệu hàng hóa. Đưa năng suất từ 30-35 tạ/ha lên 40-42 tạ/ha, từ mô hình 10ha nay có khả năng mở rộng 100ha/vụ; Lúa nếp ong Trùng Khánh, mô hình 40ha, nay mở rộng trên 200ha năng suất 40-45 tạ/ha; mô hình sản xuất lạc giống tại xã Phù Ngọc, huyện Hà Quảng 20ha; mô hình sản xuất lúa thuần chất lượng cao Japonica tại xã Cai Bộ, huyện Quảng Uyên 20ha.... Các mô hình đều có sự liên kết chặt chẽ 4 nhà, thực hiện chuỗi liên kết từ sản xuất- chế biến – tiêu thụ, được các doanh nghiệp tích cực tham gia, từ đó một số sản phẩm hàng hóa của tỉnh đã thuận lợi trong tiêu thụ, sản xuất phát triển như: thuốc lá, mía, chè, gạo nếp đặc sản, sắn, lạc, khoai tây...

Từng bước quan tâm phát triển thị trường KH&CN tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, như: Tổ chức các đoàn tham gia các chợ Công nghệ và thiết bị, chợ thương hiệu nhằm quảng bá một số sản phẩm ứng dụng KHCN của tỉnh, để tạo điều kiện cho các đơn vị sản xuất kinh doanh khảo sát tìm hiểu các thiết bị, công nghệ thích hợp có thể ứng dụng. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về SHTT được đẩy mạnh đã góp phần nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp trong việc đăng ký, bảo vệ thương hiệu cho sản phẩm, đến nay toàn tỉnh đã có 87 văn bằng, giấy chứng nhân bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, tiêu biểu như chỉ dẫn địa lý "Trùng Khánh" cho sản phẩm hạt dẻ; các nhãn hiệu tập thể khẩu Sli Nà Giàng, Miến dong hương rừng Phja Oắc, rượu Tà Lùng, thịt bò H’mong, Miến dong Nguyên Bình, quýt Trà Lĩnh...
Với quan điểm hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ KH&CN phù hợp với năng lực tiếp thu của người dân, phát huy được lợi thế so sánh từng vùng miền, phát huy được các nguồn lực xã hội góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số, Sở KH&CN đã tham mưu cho tỉnh đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung ưu tiên cho hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ có sự tham gia của các doanh nghiệp với vai trò là hạt nhân trong chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa, tạo sinh kế cho người dân vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. Hiện nay, Tỉnh đã được Bộ KH&CN phê duyệt danh mục và triển khai các dự án xây dựng mô hình ứng dụng KH&CN sản xuất chế biến các sản phẩm: Hà thủ ô, nếp Hương Bảo Lạc, Lê Đông Khê, mô hình sản xuất rau, hoa chất lượng cao tại Nguyên Bình, mô hình chăn nuôi lợn tại Hà Quảng…

Đặc biệt, trong giai đoạn vừa qua, các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh được triển khai hàng năm tập trung theo hướng nghiên cứu phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có thế mạnh của địa phương để hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, góp phần đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tạo ra các sản phẩm hàng hóa nông nghiệp đặc sản có giá trị kinh tế cao. Các nhiệm vụ KH&CN đã tập trung vào việc ứng dụng và chuyển giao các công nghệ sản xuất giống, sản xuất thương phẩm các loại cây trồng, vật nuôi; chuyển giao các quy trình kỹ thuật canh tác, chăn nuôi tiên tiến; chuyển giao các kỹ thuật xử lý sâu bệnh hại; các kỹ thuật phòng trị bệnh, xây dựng chuồng trại trong chăn nuôi, kỹ thuật tưới tiết kiệm, xử lý môi trường trong chăn nuôi và các mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi … Đến nay, các nhiệm vụ KH&CN của tỉnh đã đạt được một số kết quả nổi bật trong lĩnh vực nông nghiệp như: Ứng dụng công nghệ vi ghép đỉnh sinh trưởng để phục tráng, bảo tồn và phát triển giống quýt đặc sản Trà Lĩnh, phục tráng và phát triển giống cam Trưng Vương, quýt Hà Trì vùng Hòa An, Cao Bằng và phát triển sản xuất cam quýt theo hướng sản xuất hàng hóa. Đã bảo tồn, phục tráng và phát triển giống quýt đặc sản Trà Lĩnh, bảo tồn và phát triển nguồn gen cây cam, quýt vùng Hoà An, tỉnh Cao Bằng, xây dựng được 1,5ha quýt trồng mới tại xã Quang Hán, xã Cao Chương và Thị trấn Hùng Quốc, huyện Trà Lĩnh (tương đương 1.200 cây quýt và 270 cây ổi Đài Loan). Xây dựng được 0,5ha mô hình cải tạo vườn quýt kém hiệu quả, áp dụng các biện pháp thâm canh để nâng cao năng suất, chất lượng tại xã Quang Hán. Xây dựng 4ha mô hình trồng mới (2ha cam, 2ha quýt) và thâm canh, quản lý dịch hại tổng hợp trên cây có múi tại vùng cam, quýt của Hòa An; Xây dựng mô hình trồng mới và thâm canh quýt Hoa Thám huyện Nguyên Bình và quýt Trọng Con huyện Thạch An (quy mô 02ha, mỗi giống 01ha). Nhân giống và phát triển sản xuất cam Trưng Vương, quýt Hà Trì và quýt Trà Lĩnh (tổng diện tích 30ha, trong đó 08ha cam Trưng Vương, 10ha quýt Hà Trì và 12ha quýt Trà Lĩnh)...

Bên cạnh kết quả đã đạt được, trong quá trình triển khai thực hiện Chỉ thị số 47-CT/TU còn có những hạn chế nhất định, đó là: Các ngành, các cấp đặc biệt là cấp cơ sở chưa thực sự nhận thức rõ vai trò của KH&CN trong phát triển KT-XH, nên việc triển khai Quyết định số 1427/QĐ-UBND vẫn chưa được thực hiện tốt, một số nội dung, chương trình chưa được triển khai thực hiện. Do điều kiện KT-XH còn khó khăn nên các đơn vị chưa có điều kiện đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất. Kinh phí đầu tư cho KH&CN của tỉnh thấp hơn mức chi của cả nước.

Để tiếp tục thực hiện Chương trình hành động số 34-CT/TU; Chỉ thị số 47-CT/TU và Quyết định số 1427/QĐ-UBND, trong những năm tiếp theo, Cao Bằng cần: Đổi mới cơ chế và chính sách phát triển KT-XH; tăng cường hỗ trợ đối với hoạt động ứng dụng tiến bộ KH&CN, đổi mới nâng cao trình độ công nghệ; phát triển thị trường vốn. Tiếp tục triển khai thực hiện chương trình nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển KT-XH, giữ vững quốc phòng an ninh. Nâng cao tiềm lực KH&CN của các doanh nghiệp trên địa bàn; triển khai Chương trình phát triển thị trường KH&CN; sửa đổi chính sách hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ cho phù hợp. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền để thông tin kịp thời đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển ứng dụng KHCN trên địa bàn tỉnh.

Tác giả bài viết: HH

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HOẠT ĐỘNG THAM MƯU TƯ VẤN

KỶ YẾU KH&CN



















 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 18

Máy chủ tìm kiếm : 6

Khách viếng thăm : 12


Hôm nayHôm nay : 3798

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 66945

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6230107