Trang nhất » Tin tức sự kiện » Chính trị KT-VH-XH

Một số giải pháp xây dựng nông thôn mới gắn với giảm nghèo bền tại các xã đặc biệt khó khăn

Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sau gần hai năm thực hiện Đề án hỗ trợ thôn, bản của các xã đặc biệt khó khăn xây dựng nông thôn mới (NTM) và giảm nghèo bền vững, đến nay, Cao Bằng đã có 01 xã thuộc phạm vi Đề án vươn lên đạt chuẩn NTM được công nhận, bình quân chung số tiêu chí đạt chuẩn của các thôn là 9,6 tiêu chí/thôn.
Một số giải pháp xây dựng nông thôn mới gắn với giảm nghèo bền tại các xã đặc biệt khó khăn

Một số giải pháp xây dựng nông thôn mới gắn với giảm nghèo bền tại các xã đặc biệt khó khăn

Cao Bằng là tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới có điều kiện kinh tế- xã hội gặp nhiều khó khăn. Năm 2019, toàn tỉnh có 177 xã thuộc diện thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, trong đó có 156 xã đặc biệt khó khăn vào diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn 2017-2020. Tỉnh Cao Bằng khji bắt đầu thực hiện Quyết định số 1385/QĐ-TTg ngày 21/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hỗ trợ thôn, bản, ấp của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo xây dựng NTM gắn với giảm nghèo bền vững giai đoạn 2018 - 2020 có 8 huyện 36 xã, với 448 thôn triển khai thực hiện, sau khi tiến hành sáp nhập đơn vị hành chính, đến nay còn 6 huyện, 32 xã và 294 thôn triển khai thực hiện Đề án.

Để tăng cường nguồn lực cho các xã đặc biệt khó khăn xây dựng NTM, năm 2019, Hội đồng nhân dân tỉnh Cao Bằng đã ban hành Nghị quyết số 32/2019/NQ-
HĐND ngày 11/12/2019, trong đó quy định tiêu chí phân bổ vốn 10% dự phòng Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM năm 2020 cho các thôn, xóm của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới xây dựng NTM gắn với giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.

Tỉnh Cao Bằng đã ban hành các cơ chế đặc thù áp dụng trên địa bàn tỉnh, trong đó có áp dụng cho các huyện, xã, thôn thuộc phạm vi Đề án như: Chính sách đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp, Hợp tác xã đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; Chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; Đề án Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến năm 2030 của tỉnh Cao Bằng; Quyết định phân công các cơ quan, đơn vị phụ trách và giúp đỡ các xã thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020;... Hệ thống văn bản về cơ chế, chính sách của tỉnh đã ban hành cơ bản đầy đủ, kịp thời, đáp ứng được yêu cầu triển khai thực hiện Đề án, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người dân nông thôn.
Cùng với Chương trình xây dựng NTM, công tác truyền thông, thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân trong triển khai thực hiện Đề án được cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị xã hội các cấp coi trọng thực hiện, với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, thiết thực như tuyên truyền trên Báo Cao Bằng, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, cổng thông tin điện tử tỉnh, Tổ chức Hội nghị, lắp đặt pano, băng rôn,... Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Chính trị - Xã hội từ tỉnh đến cơ sở đã vào cuộc, tích cực tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và người dân tại địa bàn các thôn, xóm hiểu về mục đích, ý nghĩa trong xây dựng NTM nói chung và thực hiện Đề án nói riêng. Qua đó đã góp phần tạo chuyển biến về nhận thức của cán bộ và nhân dân về xây dựng NTM; thay đổi nếp nghĩ, cách làm, khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chủ động đóng góp công sức, tiền của, trí tuệ thực hiện các nội dung xây dựng NTM, thực hiện các phần việc thuộc trách nhiệm của hộ gia đình như chỉnh trang nhà cửa, giữ gìn vệ sinh môi trường...

Hiện nay, đối với 448 thôn thuộc phạm vi Đề án, qua khảo sát đánh giá thực trạng, bình quân chung số tiêu chí đạt chuẩn của các thôn là 9,6 tiêu chí/thôn; trên địa bản tỉnh chưa có thôn đạt chuẩn NTM. Ước đến cuối năm 2020 có 40 thôn đạt chuẩn NTM. Đến tháng 2/2020, tỉnh Cao Bằng có 01 xã thuộc phạm vi Đề án vươn lên đạt chuẩn NTM được công nhận. Phấn đấu đến cuối năm 2020, có thêm 02 xã thuộc phạm vi Đề án đạt chuẩn NTM.

Với sự hỗ trợ nguồn lực từ Đề án và việc lồng ghép các chương trình, chính sách, dự án đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới, các cơ sở hạ tầng thiết yếu như: Giao thông, thủy lợi, cơ sở vật chất văn hóa thôn, công trình cấp nước sinh hoạt... ở các thôn ngày càng hoàn thiện, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân, từng bước hạn chế thấp nhất mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trong chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều của người dân trên địa bàn tỉnh. Kinh tế nông thôn ngày càng phát triển, có nhiều mô hình chuyên canh, sản xuất theo hướng hàng hóa có liên kết giữa người dân, doanh nghiệp phát huy hiệu quả. Qua đó đã giảm dần khoảng cách chênh lệch giữa khu vực biên giới với các khu vực khác trong thực hiện chương trình NTM, tạo tiền đề cho các xã biên giới phấn đấu đạt chuẩn NTM năm 2020 và các năm tiếp theo.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện Đề án tồn tại một số hạn chế, bất cập như: Nguồn lực hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước còn hạn chế, trong khi đó nhu cầu kinh phí để đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các thôn, xã thuộc Đề án rất lớn, do hầu hết đều ở vùng sâu, vùng xa, địa bàn rộng, địa hình đồi núi phức tạp, suất đầu tư lớn; việc chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, sản xuất của người dân còn lúng túng, chưa có hiệu quả cao; một bộ phận người dân chưa chủ động vươn lên thoát nghèo, còn trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước; năng lực của cán bộ cơ sở còn hạn chế; không có phụ cấp kiêm nhiệm cho cán bộ làm công tác xây dựng NTM ở các xã, thôn nên khó khăn trong quá trình thực hiện; việc xây dựng kế hoạch hàng năm và giai đoạn về xây dựng NTM của cấp huyện, xã chưa sát với thực tế địa phương và chưa chi tiết do chưa xác định được nguồn lực để thực hiện từng tiêu chí cho từng xã, tùng thôn, vì vậy khó khăn trong triển khai theo tiến độ và kế hoạch; việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, xã, thôn đã ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện Đề án.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là do: Cao Bằng là tỉnh còn nhiều khó khăn, xuất phát điểm xây dựng NTM thấp; điều kiện tự nhiên không thuận lợi với hơn 90% diện tích là đồi núi; thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của người dân nông thôn, ảnh hưởng đến việc xây dựng NTM, các tiêu chí đạt chuẩn thiếu bền vững; Bộ máy giúp việc Ban Chỉ đạo NTM các cấp hoạt động chưa hiệu quả, thiếu cán bộ chuyên trách, năng lực của cán bộ cơ sở còn hạn chế, do đó công tác tham mưu chỉ đạo thực hiện Chương trình hiệu quả chưa cao; nguồn lực hỗ trợ để thực hiện Chương trình còn hạn chế nên mục tiêu, mức độ hoàn thành chưa đáp ứng các tiêu chí theo yêu cầu của Đề án.

Để tiếp tục cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần cho người dân tại các thôn của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới trên địa bàn tỉnh; góp phần hoàn thành mục tiêu phấn đấu không còn xã dưới 10 tiêu chí NTM và tạo tiền đề để các xã biên giới phấn đấu đạt chuẩn NTM khi đủ điều kiện trong giai đoạn 2021-2025, cấp ủy và chính quyền địa phương các cấp, cùng các cơ quan, tổ chức có liên quan cần thực hiện một số giải pháp như:
Một là, tăng cường vai trò, trách nhiệm công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, phát huy vai trò của người có uy tín, già làng, trưởng bản trong việc chỉ đạo triển khai thực hiện xây dưng NTM và thực hiện Đề án;

Hai là, Quan tâm nâng cao năng lực cho cán bộ, người dân và hướng dẫn cho Trưởng thôn, thành viên Ban phát triển thôn triển khai các nội dung của Đề án, trong đó chú trọng tập huấn về các kỹ năng; quan tâm công tác đào tạo nghề, nhất là phát huy những nghề truyền thống ở các thôn, bản. Đẩy mạnh phân cấp, phân công nhiệm vụ trong tổ chức thực hiện chương trình; tạo điều kiện cho cộng đồng và người dân tham gia ngay từ việc khảo sát, lập kế hoạch đến tổ chức thực hiện Đề án;
Ba là, chú trọng công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, đồng thuận của người dân để cộng đồng và người dân được bàn bạc, phát huy dân chủ, công khai, minh bạch và quyết định đóng góp công sức trong quá trình tổ chức, thực hiện Đề án;

Bốn là, tiếp tục xây dựng kế hoạch, cách thức tổ chức triển khai thực hiện sát với thực tiễn, phù hợp với từng địa bàn; thường xuyên kiểm tra, giám sát, tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm trong triển khai, thực hiện Đề án; kịp thời khen thưởng các tập thể, cá nhân điển hình vượt khó vươn lên, có nhiều đóng góp trong việc thực hiện Đề án ở cơ sở.

TN
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

PHIM PHỔ BIẾN KIẾN THỨC KH&CN


HOẠT ĐỘNG THAM MƯU TƯ VẤN

KỶ YẾU KH&CN

THÔNG TIN NHIỆM VỤ KH&CN

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 11

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 10


Hôm nayHôm nay : 2279

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 75233

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 8746717



















Trang thông tin điện tử Sở KH&CN Cao Bằng