Trang nhất » Tin tức sự kiện » Chính trị KT-VH-XH

Cao Bằng, tiềm năng phát triển kinh tế và hợp tác đầu tư

Thực hiện mục tiêu phấn đấu trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, đồng thời tạo sự chuyển biến mạnh về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của từng ngành, từng sản phẩm; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, tỉnh Cao Bằng luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất, đồng hành cùng các nhà đầu tư, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh.
Kết quả phát triển kinh tế - xã hội: Trong giai đoạn 2016- 2018, Cao Bằng không ngừng đổi mới, phát triển, đã đạt được những kết quả quan trọng: Tăng trưởng kinh tế ước đạt 6,57%/năm; thu nhập bình quân đầu người ước đạt 1.100 USD/người/năm; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 58,72% so với GRDP; thu ngân sách trên địa bàn tỉnh có bước phát triển ổn định, vượt so với dự toán Trung ương giao bình quân 27%/năm; tỷ lệ giảm nghèo bình quân trên 3%/năm, trong đó các huyện nghèo giảm bình quân trên 4%/năm; tỷ lệ che phủ rừng 54,5%; tỷ lệ dân cư thành thị được dùng nước sạch đạt trên 86%; tỷ lệ dân cư nông thôn được dùng nước hợp vệ sinhtrên 88%. Giai đoạn 2016– 2018, có 87 dự án được cấp chứng nhận đầu tư, với tổng số vốn đầu tư: 12.308 tỷ đồng.

Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH năm 2018: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) ước tăng 7%; GRDP bình quân đầu người/năm ước đạt 24,9 triệu đồng, tương đương 1.100 USD, đạt kế hoạch;  tổng thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 1.550 tỷ đồng, tăng 37,9% so với dự toán TW giao; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu qua địa bàn ước đạt 680 triệu USD. Tổng kim ngạch tính cả kim ngạch giám sát đạt trên 2.500 triệu USD; giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 3% theo chuẩn nghèo đa chiều; tỷ lệ che phủ rừng 54,5%. Năm 2018, có 26 dự án được cấp chứng nhận đầu tư, với tổng số vốn đầu tư 2.025 tỷ đồng.

Đến nay, trên địa bàn tỉnh Cao Bằng có 268 dự án với tổng số vốn đăng ký 40.715,72 tỷ đồng, trong đó: Lĩnh vực nông nghiệp có 56 dự án; khai thác chế biến khoáng sản 94 dự án; thương mại, dịch vụ 89 dự án; du lịch 12 dự án, thủy điện 17 dự án. Trong 9 tháng đầu năm 2018 đã cấp chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 28 dự án với tổng số vốn đăng ký là 2.037,258 tỷ đồng, trong đó, lĩnh vực nôgn lâm nghiệp là 5 dự án; thương mại, dịch vụ 17 dự án; du lịch 02 dự án; thủy điện 02 dự án. Một số dự án được cấp chủ trương đa số đã đi vào hoạt động, bước đầu phát huy hiệu quả tốt, như Trang trại chăn nuôi Thông Huề, Trang trại chăn nuôi lợn rừng và trồng cây ăn quả ở xã Bế Triều và trang trại chăn nuôi lợn hương rừng.

Tiềm năng để phát triển kinh tế và hợp tác đầu tư, cụ thể:

Thứ nhất, tiềm năng phát triển lĩnh vực nông nghiệp, với lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng: Diện tích rừng chiếm trên 61% diện tích đất tự nhiên, là điều kiện để phát triển nông, lâm nghiệp. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với chế biến, như: vùng trồng Trúc sào, Hồi, Thuốc lá, Mía, Chè...; cây ăn quả như: Quýt, Hạt dẻ; Rau xanh...; tập trung phát triển nuôi: Bò U, Lợn Đen, Trâu, Dê, Lợn...

Thứ hai, tiềm năng phát triển công nghiệp: Với nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại, một số loại có trữ lượng khá lớn như là Quặng Sắt, Bauxit... Là điều kiện để phát triển công nghiệp khai khoáng và chế biến.

Thứ ba, tiềm năng phát triển du lịch: Là một tỉnh có nhiều khu du lịch là điểm đến của du khách trong và ngoài nước, Cao Bằng đang đẩy mạnh khai thác, từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực phát triển KT-XH của tỉnh. Cao Bằng có nhiều khu di tích lịch sử (có 02 di tích quốc gia đặc biệt, 29 di tích xếp hạng quốc gia, 66 di tích cấp tỉnh). Với đặc điểm một tỉnh miền núi có nhiều nhóm dân tộc thiểu số cùng sinh sống tạo nên một nền văn hóa đa dạng và ẩm thực phong phú, năm 2018, Hội đồng Chấp hành UNESCO đã thông qua nghị quyết công nhận Công viên Địa chất Non Nước Cao Bằng là Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần khơi dậy tiềm năng du lịch tỉnh Cao Bằng.

Thứ tư, tiềm năng về phát triển kinh tế cửa khẩu, nhất là thương mại và dịch vụ: Cao Bằng có 01 cửa khẩu quốc tế (Tà Lùng) và 03 cặp cửa khẩu chính(Cửa khẩu Trà Lĩnh, Sóc Giang, Lý Vạn) và nhiều cặp cửa khẩu phụ. Với vị trí nằm ở cửa ngõ giao lưu hàng hóa từ Quảng Tây và các tỉnh phía Tây, Tây Nam Trung Quốc ra biển và đến các nước ASEAN, Cao Bằng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế cửa khẩu, thương mại và dịch vụ, nhất là phát triển kinh tế biên mậu.

Thứ năm, triển vọng hợp tác xuất khẩu nông sản sang thị trường Trung Quốc qua tỉnh Cao Bằng: Với lợi thế về địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông, khu kinh tế cửa khẩu, cùng với chính sách thu hút đầu tư của Nhà nước Việt Nam nói chung và Cao Bằng nói riêng sẽ có rất nhiều điều kiện thuận lợi trong hợp tác phát triển, nhất là lĩnh vực xuất khẩu nông sản sang thị trường Trung Quốc qua tỉnh Cao Bằng. Hệ thống giao thông kết nối giữa Cao Bằng với các Trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam cơ bản đã được nâng cấp. Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch tuyến đường bộ cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn)- Trà Lĩnh (Cao Bằng). Hiện nay, tỉnh Cao Bằng đang đề nghị điều chỉnh Quy hoạch đầu tư trong giai đoạn 2018 – 2020. Hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu đã và đang tiếp tục đầu tư; nhiều hạng mục thiết yếu, các bến, bãi, kho tập kết hàng hóa đã hoàn thành. Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng; là một trong 09 Khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm để tập trung đầu tư.

Cơ chế, chính sách ưu đãi thu hút đầu tư: Là tỉnh thuộc địa bàn có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn nên các dự án đầu tư trên địa bàn (trừ một số loại dự án đầu tư: khai thác khoáng sản; sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, trừ sản xuất ô tô) đều được hưởng ưu đãi đầu tư, như: Áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định, nguyên liệu, vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư; Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất.

Áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong vòng 15 năm; Được miễn thuế tối đa không quá 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá 9 năm tiếp theo đối với các dự án đầu tư mới thực hiện tại địa bàn tỉnh.

Miễn giảm tiền thuê đất: Miễn tối đa 03 năm tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản. Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước có thời hạn sau thời gian được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước của thời gian xây dựng cơ bản: 11 năm đối với dự án đầu tư không thuộc Danh mục ngành nghề đặc biệt ưu đại đầu tư và Danh mục ngành nghề ưu đãi đầu tư; 15 năm đối với dự án thuộc Danh mục ngành nghề ưu đãi đầu tư; Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước cho cả thời hạn thực hiện dự án đầu tư đối với dự án thuộc Danh mục ngành nghề đặc biệt ưu đại đầu tư.
Miễn, giảm tiền sử dụng đất: Được giảm 30% tiền sử dụng đất phải nộp NSNN. Được giảm 50% tiền sử dụng đất phải nộp NSNN đối với dự án thuộc Danh mục ngành nghề ưu đãi đầu tư. Được miễn tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

Ngoài các chính sách ưu đãi áp dụng chung đối với các doanh nghiệp đầu tư tại địa bàn có điều kiện đặc biệt khó khăn, trong các lĩnh vực còn có các chính sách ưu đãi bổ sung, cụ thể:

Đối với đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp: Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/2018/NĐ-CP, ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trong đó quy định một số ưu đãi và hỗ trợ đầu tư bổ sung của Nhà nước dành cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Chính sách đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Cao Bằng theo Nghị quyết số 58/2016/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Cao Bằng.

Đối với lĩnh vực giáo dục, y tế, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP, ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường và Nghị định số 59/2014/ NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP.

Đối với lĩnh vực thương mại, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 964/QĐ-TTg, ngày 30/6/2015 phê duyệt Chương trình phát triển thương mại miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo giai đoạn 2015 - 2020 nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa các vùng miền, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập của người dân, đảm bảo an ninh quốc phòng miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo.

Xác định thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển KT-XH là nhiệm vụ quan trọng với phương châm sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực ở địa phương, tập trung phát triển kinh tế với tốc độ cao và bền vững, trọng tâm là phát triển một số ngành công nghiệp có lợi thế của tỉnh như: Khai thác chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản, chú trọng phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp hữu cơ, nâng cao chất lượng sức cạnh tranh và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực du lịch để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Trong thời gian tới, Cao Bằng sẽ tập trung thực hiện các giải pháp chính sách cải thiện môi trường đầu tư, như: Triển khai thực hiện Luật Quy hoạch năm 2017, loại bỏ các quy hoạch không còn phù hợp để mở rộng diện được đầu tư kinh doanh của người dân, thực hiện thống nhất các quy định của Luật Đầu tư. Hoàn chỉnh và công bố rộng rãi quy hoạch sử dụng đất, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư, tiếp tục rà soát sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách đầu tư không còn phù hợp nhằm khuyến khích các nhà đầu tư.

Nâng cao năng lực của tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về đầu tư bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, giải quyết nhanh, đơn giản các thủ tục đầu tư, tránh gây phiền hà, nhũng nhiễu tiêu cực đối với nhà đầu tư. Tạo cơ sở pháp lý, điều kiện kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp. Không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của các dự án đang hoạt động ở địa phương, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư mới vào đầu tư. Thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và nhũng nhiễu với các nhà đầu tư. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao tinh thần trách nhiệm cá nhân trong xử lý công việc, thực hành tiết kiệm chống lãng phí ở các cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời đẩy mạnh giáo dục tuyên truyền, kiểm tra giám sát. Xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, nhũng nhiễu với các nhà đầu tư ở cơ quan quản lý nhà nước.

Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các thông tin cần thiết, công bố danh mục dự án kêu gọi đầu tư. Xây dựng chương trình vận động đầu tư tại các địa bàn trọng điểm, các nhà đầu tư chiến lược. Tiếp tục rà soát cập nhật bổ sung danh mục các dự án kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xác định rõ danh mục dự án cần thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp phù hợp với điều kiện của tỉnh cũng như nhu cầu thị trường, ưu tiên dự án đầu tư phát triển các sản phẩm thế mạnh của địa phương. Tiếp tục quan tâm công tác xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, tăng cường quảng bá, giới thiệu tiềm năng, thế mạnh nông nghiệp của Cao Bằng.

Tác giả bài viết: BBT (Theo Ban tuyên giáo tỉnh Cao Bằng)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HOẠT ĐỘNG THAM MƯU TƯ VẤN

KỶ YẾU KH&CN



















 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 28

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 27


Hôm nayHôm nay : 3665

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 77831

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6870357