Trang nhất » Tin tức sự kiện » Chính trị KT-VH-XH

Tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững

Sau gần 10 năm thực hiện Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” của Chính phủ, đến nay, ngành Nông nghiệp Việt Nam đã có sự chuyển dịch mạnh từ phát triển chiều rộng lấy số lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng.
Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Một số kết quả cụ thể:

Giai đoạn năm 2013 - 2018, mặc dù sản xuất gặp nhiều khó khăn do thiên tai và biến động bất lợi của thị trường nhưng tốc độ tăng GDP ngành vẫn đạt 2,55%/năm, giá trị sản xuất toàn ngành tăng 3,41%/năm. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất ngành tăng từ 64,7% năm 2013 lên gần 80% năm 2018. 6 tháng đầu năm 2019, sản xuất duy trì mức tăng trưởng khá, tốc độ tăng giá trị sản xuất toàn ngành ước đạt 2,71%.

Cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế ngành có sự chuyển dịch theo hướng hiệu quả hơn, chuyển mục tiêu tăng trưởng dựa vào tăng số lượng sang chất lượng và giá trị gia tăng. Tỷ trọng giá trị sản xuất thủy sản tăng từ 22,48% năm 2012 lên 24,95% năm 2018; giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng từ 2,69% năm 2012 lên 3,79% năm 2018. Tỷ trọng giá trị gia tăng thủy sản tăng từ 18,8% lên 20,5%; lâm nghiệp tăng từ 3,8% lên 4,5%.

Việc ứng dụng KHCN vào sản xuất đã đóng góp trên 30% giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp. Trong 6 năm qua, đã có 214 giống cây trồng, 15 giống thủy sản, 58 giống lâm nghiệp mới và 103 kỹ thuật tiến bộ được công nhận, đưa vào sản xuất. Chú trọng đến xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn sản phẩm để thống nhất quản lý chất lượng và hài hòa với quy định của quốc tế. Đến tháng 6/2019, ngành nông nghiệp có 990 Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và 213 Quy chuẩn Việt Nam (QCVN), tăng 148 TCVN và 01 QCVN so với năm 2018, trong đó phục vụ kiểm tra chuyên ngành có 468 TCVN và 81 QCVN.

Các hình thức tổ chức sản xuất được đổi mới. Các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị được phát triển phù hợp với điều kiện sản xuất của từng vùng và địa phương để nâng cao giá trị sản phẩm, số lượng HTX, trang trại nông nghiệp tiếp tục tăng, hoạt động theo Luật và dần thích nghi với cơ chế thị trường. Lực lượng doanh nghiệp nông nghiệp ngày càng lớn mạnh và tâm huyết đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn hơn, đang trở thành nòng cốt trong chuỗi giá trị nông sản. Phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản trong sản xuất nông nghiệp được phát triển mạnh.

Công nghiệp chế biến vả cơ giới hóa trong nông nghiệp được đầu tư theo hướng phát trển chế biến sâu, ứng dụng công nghệ cao để gia tăng giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông, lâm, thủy sản, góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất thu nhập cho nông dân. Ở nhiều địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng có mức độ cơ giới hóa cao, giảm chi phí được khoảng 15 - 20%. Đến nay, cả nước đã có trên 7.000 cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản quy mô công nghiệp; tỷ trọng sản phẩm tăng cao, như: cà phê hòa tan tăng 2,83 lần; 50% sản lượng thủy sản và 76% giá trị đồ gỗ, lâm sản được chế biến sâu. Nhờ đó, giá trị tăng thêm chuỗi giá trị sản phẩm qua chế biến đạt 15,3%.

Thị trường tiêu thụ nông, lâm, thủy sản được mở rộng, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm chất lượng cao, có lợi thế; đã xuất khẩu đến 185 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2018 đạt 40,02 tỷ USD, tăng 9,6% so với năm 2017; tiếp tục duy trì 10 nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1,0 tỷ USD. 6 tháng đầu năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 19,77 tỷ USD, tăng 2,2%, thặng dư thương mại toàn ngành đạt 4,2 tỷ USD. Tỷ trọng nông sản có lợi thế tăng cao như: rau, quả tăng từ 3% lên 9,59%; hạt điều tăng từ 5,4% lên 9,63%; đồ gỗ và lâm sản tăng từ 18% lên 22%.

Cơ cấu đầu tư công trong nông nghiệp được điều chỉnh theo các mục tiêu ưu tiên. Kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được đầu tư nâng cấp và từng bước hiện đại hóa, phục vụ ngày tốt hơn cho sản xuất, đời sống dân sinh, phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm (ATTP) được tăng cường, công tác quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, vệ sinh ATTP được chú trọng.

Những thách thức mới đặt ra cho tái cơ cấu lai ngành nông nghiệp

Kinh tế thế giới đang có xu hướng phục hồi, tuy vậy trong trung hạn có nhiều rủi ro, thách thức từ những biến động chính trị ở nhiều quốc gia và khu vực.

Những hạn chế, yếu kém của nền sản xuất nhỏ, thiếu liên kết chậm được khắc phục, cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn còn nhiều yếu kém.

Công nghiệp hóa và đô thị hóa tiếp tục phát triển, cạnh tranh các nguồn lực tự nhiên, đặc biệt là đất và nước, vốn đang dành cho sản xuất nông nghiệp.

Biến đổi khí hậu tác động ngày càng mạnh mẽ, làm giảm năng suất cây trồng, gia tăng biến động trên thị trường nông sản quốc tế. Dịch bệnh xuyên biên giới có xu hướng gia tăng.

Giải pháp đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững

Một là: Phát triển ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng nông thôn mới, phù hợp với kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng cơ cấu lại sản xuất theo 3 trục sản phẩm (nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia; nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh; nhóm sản phẩm theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm”). Triển khai thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại các lĩnh vực (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp).

Hai là: Tiếp tục đổi mới và nhân rộng các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, hiệu quả, trọng tâm là phát triển doanh nghiệp nông nghiệp, phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị. Đổi mới thực chất các HTX. Hỗ trợ tích cực phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hóa.

Ba là: Đầu tư nâng cao năng lực hệ thống nghiên cứu và chuyển giao để nâng cao trình độ KHCN nông nghiệp. Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao. Thúc đẩy xã hội hóa hoạt động KHCN, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư các khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, liên kết đầu tư hạ tầng KHCN, phát triển thị trường KHCN.

Bốn là: Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ hỗ trợ những sản phẩm nông nghiệp chủ lực để phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Thúc đẩy cơ giới hóa, phát triển ngành nghề nông thôn.

Năm là: Tập trung mạnh tái cơ cấu đầu tư công và dịch vụ công trong nông nghiệp, tạo ra môi trường thuận lợi cho hình thành có hiệu quả và bền vững chuỗi giá trị nông sản dựa trên lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương.

Sáu là: Đổi mới và từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách trong lĩnh vực đất đai, lao động, vật tư, vốn, sở hữu trí tuệ...

Bảy là: Đẩy mạnh đào tạo nghề cho nông dân gắn với nhu cầu của thị trường lao động.

Tám là: Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển thị trường hàng nông, lâm, thủy sản. Tận dụng cơ hội của việc tham gia các hiệp định thương mại tự do để mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản; tổ chức lại thị trường trong nước phù hợp với xu thế phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0, tạo động lực thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước.

Chín là: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý Nhà nước; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, sự tham gia của nhân dân trong phát triển nông nghiệp, nông thôn./.

 

 

Tác giả bài viết: BTT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HOẠT ĐỘNG THAM MƯU TƯ VẤN

KỶ YẾU KH&CN



















 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 21

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 20


Hôm nayHôm nay : 1818

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 100318

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7195821