Trang nhất » Tin tức sự kiện » Chính trị KT-VH-XH

Cao Bằng đánh giá 10 năm thực hiện Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là vấn đề chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng kinh tế nông thôn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm thường xuyên của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị, là sự nghiệp của toàn thể nhân dân. Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tình hình KT-XH của tỉnh đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, bộ mặt nông thôn ngày một đổi mới.
Ngành KH&CN đã và đang tập trung hỗ trợ nghiên cứu, bảo tồn, phục tráng một số sản phẩm nông nghiệp địa phương phát triển.

Ngành KH&CN đã và đang tập trung hỗ trợ nghiên cứu, bảo tồn, phục tráng một số sản phẩm nông nghiệp địa phương phát triển.

Sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh đã có bước chuyển biến tích cực. Tổng vốn đầu tư vào ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giai đoạn 2008-2017 là 5.079 tỷ đồng, chiếm 8,77% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2008, được 2.625,1 tỷ đồng đến năm 2017 đạt 3.811 tỷ đồng (tăng 1.186 tỷ đồng). Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh giảm dần theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, nhiệm kỳ 2010 - 2015 và nhiệm kỳ 2015 – 2020, năm 2008 là 33,47%, năm 2017 là 24,33% (giảm 9,14%). Về trồng trọt: Diện tích gieo trồng tăng từ 82.460,82ha năm 2008 lên 94.644 ha năm 2017; tổng sản lượng lương thực có hạt tăng từ 236.885 tấn năm 2008 lên 273.880 tấn năm 2017; lương thực bình quân đầu người năm 2017 đạt 511kg, tăng 10,1% so với năm 2008. Về chăn nuôi: Tổng đàn trâu là 104.128 con, giảm 3.403 con so với năm 2008; tổng đàn bò là 112.320 con, giảm 12.425 con so với năm 2008; đàn lợn là 343.736 con, tăng 19.075 con so với năm 2008; đàn gia cầm, thuỷ cầm tăng từ 2.004.612 con năm 2008 lên 2.245.000 con năm 2017, tăng 240.388 con so với năm 2008. Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản hiện có 333,6 ha; sản lượng nuôi trồng đạt khoảng 384 tấn, tăng 8,2% so với năm 2008. Lâm nghiệp: Trồng mới được 13.793,5 ha rừng, trong đó rừng phòng hộ, đặc dụng 4.607,6 ha, rừng sản xuất 9.185,9 ha; khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên bình quân hàng năm 17.500 ha; bảo vệ rừng bình quân hàng năm 25.000 ha. Tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh tăng từ 49,5% năm 2008 lên 54,2% năm 2017. Nhiều mô hình áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao giá trị sản phẩm được triển khai thực hiện, như: mô hình sản xuất, phát triển giống Lê mới và giống Lê địa phương tại xã Vũ Nông, huyện Nguyên Bình; mô hình cây Lê vàng tại xã Xuân Trường, huyện Bảo Lạc; mô hình sản xuất rau an toàn, năng suất cao đạt trên 200 triệu đồng/ha tại huyện Hòa An; mô hình trồng Gừng Trâu theo hướng xuất khẩu tại huyện Hà Quảng...mô hình nuôi trâu, bò vỗ béo, chăn nuôi gà lông màu, chăn nuôi vịt với các giống bản địa chất lượng tốt; mô hình trồng Hà thủ ô phân tán dưới tán rừng… Tính đến hết tháng 6/2018 toàn tỉnh đã kêu gọi được 42 dự án đầu tư vào lĩnh vực nông lâm nghiệp trong đó đã cấp chủ trương đầu tư 27 dự án gồm trồng trọt có 7 dự án, chăn nuôi 17 dự án, chế biến nông sản thực phẩm 03 dự án.

Giá trị sản xuất công nghiệp nông thôn (theo giá năm 2008) là 426,613 tỷ đồng, năm 2017 là 621,952 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn này là 12,59%. Tổng số hộ nông thôn được sử dụng điện quốc gia tăng 11.455 hộ, đạt 68,26%/tổng số hộ nông thôn. Tính đến năm 2008, toàn tỉnh có 1.550 cơ sở sản xuất công nghiệp, năm 2017 có hơn 1.600 cơ sở.

Cao Bằng quan tâm duy trì và mở rộng phát triển làng nghề.

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh được quan tâm đầu tư xây dựng. Sau gần 10 năm thực hiện, diện mạo nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực, kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất được quan tâm đầu tư nâng cấp; đến nay 100% xã có đường bê tông hoặc rải nhựa đến trung tâm xã, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương hàng hóa, phát triển KT-XH, 100% xã có điện lưới quốc gia. Trong giai đoạn 2008 - 2017, toàn tỉnh đã xây dựng được 3.520,12km đường các loại, đến nay có 59/177 xã đạt tiêu chuẩn tiêu chí giao thông. Cải tạo, nâng cấp hệ thống thủy lợi đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, phục vụ sản xuất, dân sinh... hiện toàn tỉnh có 3.560 công trình thủy lợi, 107/177 xã đạt chuẩn tiêu chí. Đến cuối năm 2017, 177/177 xã nôgn thôn được sử dụng điện quốc gia, đạt 100% kế hoạch, có 78.764 hộ, chiếm 85,28% số hộ dân nông thôn được sử dụng điện lưới quốc gia, tăng 10.575 hộ so với năm 2008, 106/177 xã đạt tiêu chí điện nông thôn mới, chiếm 57,06%. Đến năm 2017, có 100/177 xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã; trên 87% dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; có 109 trường học đạt chuẩn quốc gia; tổng số chợ nông thôn trên địa bàn tỉnh là 64 chợ, trong đó có 07 chợ nông thôn đạt chuẩn theo quy định. Thu nhập bình quân khu vực nông thôn tăng từ 5,39 triệu đồng năm 2008 lên 13,74 triệu đồng năm 2017 (tăng 8,35% triệu đồng). Công tác giảm nghèo, dạy nghề, giải quyết việc làm, BHYT cho nông dân nông thôn có chuyển biến tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm từ 31,25% năm 2008 (theo tiêu chí cũ) xuống còn 28,22% năm 2012; thực hiện rà soát hộ nghèo đa chiều năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 42,53%, đến hết năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 34,77%. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề tăng từ 17,1% năm 2009 lên 28% năm 2017…

Bên cạnh kết quả đã đạt được, phát triển nông nghiệp của tỉnh chưa thực sự bền vững, việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, chủ yếu là sản xuất nhỉ, phân tán; tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn chưa phát triển xứng tầm với tiềm năng, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, sản phẩm chất lượng còn thấp, chưa đa dạng về chủng loại, mẫu mã; chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế; kết quả xây dựng nông thôn mới tại các địa phương chưa đồng đều; công tác xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững, đời sống của một số bộ phận dân cư, nhất là khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn…

Kế thừa và phát huy thành tựu đã đạt được trong những năm qua, nhằm tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết TW 7 một cách hiệu quả, Cao Bằng xác định mục tiêu trong thời gian tới là khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, đảm bảo an ninh lương thực; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nội ngành; phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp đảm bảo hài hòa mục tiêu phát triển xã hội và môi trường bền vững; đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới nhằm nâng cao giá trị và giá trị gia tăng trên một đơn vị sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp. Nâng cao thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động nông thôn. Thực hiện tốt công tác xoá đói, giảm nghèo, an sinh xã hội; thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hoá gia đình; chăm sóc sức khoẻ nhân dân; nâng cao chất lượng giáo dục, văn hoá xã hội nhằm từng bước nâng cao đời sống, vật chất tinh thần cư dân nông thôn. Tiếp tục quan tâm đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; nâng cao dân trí, bảo vệ môi trường sinh thái; tăng cường sức mạnh của hệ thống chính trị đảm bảo giữ vững quốc phòng, an ninh phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

Phấn đấu đến năm 2025 và 2030: Tốc độ tăng trưởng ngành nông, lâm, thủy sản 3,5%/năm. Giá trị sản phẩm/ 01ha đất canh tác bình quân năm 2025 đạt trên 45 triệu đồng; đến năm 2030, đạt 50 triệu đồng; tổng sản lượng lương thực có hạt đến năm 2030 khoảng 300.000 tấn; sản lượng thịt hơi các loại đạt 50.000 tấn. Nâng tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh đạt 55% vào năm 2025 và đạt 56% vào năm 2030. Tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm từ 2- 3%. Hàng năm tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 6.000 lao động. Phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề toàn tỉnh lên 50% năm 2025 và năm 2030, tăng lên 55%. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2025 đạt 20 triệu đồng/người/năm và đạt 25 triệu đồng vào năm 2030. Tỷ lệ hộ nông dân sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 90% năm 2025 và 95% năm 2030. Đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 30 xã đạt chuẩn nông thôn mới (giai đoạn 2016-2020 là 20 xã). Đến hết năm 2030, toàn tỉnh đạt 40 xã chuẩn nông thôn mới.

Tác giả bài viết: Hoàng Nghĩa

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HOẠT ĐỘNG THAM MƯU TƯ VẤN

KỶ YẾU KH&CN















 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 32

Thành viên online : 1

Máy chủ tìm kiếm : 11

Khách viếng thăm : 20


Hôm nayHôm nay : 5256

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 77913

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5963143