Trang nhất » Kỷ yếu KH&CN » Tóm tắt ĐT/DA 2006-2010

Xây dựng vườn ươm, chuyển giao công nghệ nhân giống chè đắng cho huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng

Chủ nhiệm đề tài: Nông Trọng Thắng
Đơn vị thực hiện: Công ty Chè đắng Cao Bằng
Thời gian thực hiện: 2005 - 2006

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiều kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trung ương và địa phương khẳng định chè đắng là cây bản địa, sinh trưởng và phát triển tự nhiên từ lâu tại Cao Bằng. Chè đắng vừa là cây gỗ lớn, có tác dụng phòng hộ, phủ xanh đất trống đồi núi, vừa làm chè uống, có tác dụng chữa bệnh, vì vậy tỉnh ủy, UBND đã giao cho Sở KH&CN nghiên cứu toàn diện về cây chè đắng từ khâu: Nhân giống cây, xây dựng vùng nguyên liệu đến khâu chế biến sản phẩm và tiêu thụ trên thị trường, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng đưa cây chè đắng trở thành cây kinh tế mũi nhọn, là sản phẩm thế mạnh độc quyền của tỉnh.

II. MỤC TIÊU

- Khảo sát, xây dựng 02 vườn ươm tại huyện Bảo Lạc và huyện Bảo Lâm quy mô mỗi vườn là 1.000m2, đảm bảo năng lực sản xuất mỗi năm được từ 20.000 cây giống đủ tiêu chẩn xuất vườn trở lên, để trồng và tạo vùng nguyên liệu chè đắng tại địa phương.

- Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom cây chè đắng.

- Đào tạo và hướng dẫn cho 2 kỹ thuật viên của mỗi vườn ươm, đảm bảo tiếp thu được quy trình kỹ thuật nhân giống cây chè đắng bằng phương pháp giâm hom, làm cơ sở cho việc phát triển và mở rộng quy mô các vườn ươm sau này.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Tại vườn ươm của huyện Bảo Lâm:

Tổng số hom giâm trong đợt 1 ( từ tháng 7 đến tháng 9/2005 ) được 23.000 hom, sau khi giâm được khoảng 25 ngày thì bắt đầu có rễ cấp I và sau khoảng 35 ngày thì hom đã ra rễ cấp II, số hom ra rễ là 15.000 đạt 65%. Sau 40 ngày, bộ rễ dài từ 2 - 2,5cm khi chuyển hom vào bầu không được làm tổn thương rễ, rễ hom được vùi sâu trong bầu đất 1 - 1,5cm.  Sau khi vào bầu  được 35 - 40 ngày thì xuất hiện chồi, tỷ lệ bật chồi là 84%, trong thời gian này cần làm cỏ phá váng, bón phân loãng và định kỳ 25 - 40 ngày  phun thuốc trừ sâu 1 lần.

Sau khi giâm hom được 7 tháng, cây cao từ 10-15cm, đường kính gốc 0,1-0,2cm, số lá trên cây từ 5-7 lá. Khi dự án kết thúc giai đoạn chuyển giao toàn bộ số cây số cây vật liệu khởi đầu (VLKĐ) ước tính thu được 70%.

Tiến hành giâm hom đợt 2 ( 4/2006 ) được 7.000 hom, đã ra rễ cấp I.

2. Tại vườn ươm huyện Bảo Lạc:

Tổng số giâm hom đợt 1 ( từ tháng 7 đến tháng 9/2005 ) được 20.000 hom, sau khi giâm khoảng 25 ngày có rễ cấp I, và kéo dài đến sau 35 ngày thì hom ra rễ cấp II, số hom ra rễ là 15.000 đạt 75%.

Sau 5-6 tháng số cây đã giãn bầu đạt chiều cao trên 15cm, số lá trên cây 5-6 lá, cây đang sinh trưởng và phát triển tốt, khi dự án kết thúc giai đoạn chuyển giao toàn bộ số cây VLKĐ ước tính thu được 70%, nhà lưới giâm hom còn sử dụng được 50%.

Giâm hom đợt 2 ( 4/2006 ) được 7.000 hom, đã ra rễ cấp I.

3. Kết quả trung bình của hai vườn ươm

Sau một năm thực hiện dự án cả 2 vườn ươm đã sản xuất được 20.600 cây , vượt 3,0% so với mục tiêu của dự án; Tỷ lệ ra rễ của hom giâm trung bình đạt 70% tổng số hom giâm; Tỷ lệ hom bật chồi thành cây đạt trung bình 68,5% tổng số hom vào bầu; Thời gian ra rễ của hom giâm là 25-35 ngày; Thời gian hom giâm tới khi cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn khoảng 10-11 tháng; Tận thu cây VLKĐ là 6.244 cây đạt 70%.

Dự án đã chuyển giao được công nghệ nhân giống chè đắng bằng phương pháp giâm hom và đơn vị nhận chuyển giao có đủ khả năng để tự tổ chức sản xuất được cây giống chè đắng để trồng vùng nguyên liệu, hiện nay cả 2 vườn ươm có đủ điều kiện và cơ sở vật chất để tiếp tục sản xuất mỗi năm có thể sản xuất được khoảng 1,2 vạn cây/ vườn ươm.

4. Hiệu quả kinh tế - xã hội:

a. Hiệu quả kinh tế:

Sau một năm tiến hành giâm hom, dự án đã thu được 98,1% tổng số vốn đầu tư ban đầu.

Việc sản xuất cây con tại vườn ươm địa phương còn giảm thiểu chi phí vận chuyển ( giảm được 403đ/cây cước vận chuyển tính đến thị trấn Bảo Lạc, đến thị trấn Bảo Lâm là 551đ/cây; Đơn giá vận chuyển được tính theo Quyết định số 2197/QĐ – UBND, ngày 13/9/2005 của UBND tỉnh Cao Bằng về việc phê duyệt mức trợ giá cước vận chuyển hàng hóa thuộc danh mục được trợ giá, trợ cước vận chuyển từ ngân sách nhà nước ). Ngoài ra còn góp phần hạn chế tỷ lệ vỡ bầu, đảm bảo chất lượng cây giống.

b. Hiệu quả xã hội:

- Tạo được việc làm ổn định có thu nhập cho 2 kỹ thuật viên tại chỗ, đào tạo được đội ngũ cán bộ kỹ thuật có tay nghề vững vàng để giải quyết vấn đề sản xuất cây giống tại chỗ phục vụ nhiệm vụ phát triển KT - XH tại địa phương.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây chè đắng với quy mô tập trung, từng bước chuyển dịch cơ cấu cây trồng, góp phần xóa đói, giảm nghèo và vươn lên làm giàu từ những tiềm năng, thế mạnh của địa phương theo định hướng phát triển KT - XH của tỉnh.

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HOẠT ĐỘNG THAM MƯU TƯ VẤN

KỶ YẾU KH&CN










Bộ KHCN
Sở hữu trí tuệ

 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 26

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 25


Hôm nayHôm nay : 3261

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 79129

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4792386