Trang nhất » Kỷ yếu KH&CN » Tóm tắt ĐT/DA 2006-2010

Điều tra nghiên cứu, cảnh báo trượt -lở, lũ quét- lũ bùn đá tại một số huyện trong tỉnh

Chủ nhiệm dự án: TS. Ngô Thị Phượng
Đơn vị thực hiện: Viện địa chất - Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Thời gian thực hiện: 2007-2009

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Cao Bằng là một tỉnh miền núi với địa hình đồi núi cao, sườn dốc, có độ chia cắt mạnh, địa chất kiến tạo phức tạp, thường xuyên xảy ra các tai biến trượt lở (TL), lũ quét, lũ bùn đất (LQ-LBĐ) làm  ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân. Đặc biệt trong vòng 10 năm trở lại đây TL, LQ-LBĐ đã diễn ra với cường độ mạnh trên quy mô lớn tại hầu hết các huyện trong tỉnh, gây thiệt hại hàng nghìn tỉ đồng, làm chết nhiều người và huỷ hoại môi trường một cách nghiêm trọng. Xuất phát từ thực tế này, Sở KH&CN Cao Bằng đã ký hợp đồng NCKH & PTCN số 365/2007/HĐ-DAKHCN, ngày 23/7/2007 với Viện địa chất thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam về việc thực hiện dự án “ Điều tra nghiên cứu, cảnh báo về TL, LQ-LBĐ tại một số huyện của tỉnh Cao Bằng” (trong đó Sở KH&CN Cao Bằng là đơn vị chủ trì, Viện địa chất thuộc Viện Khoa học và công nghệ là đơn vị thực hiện).

Theo đề cương đã được phê duyệt, địa bàn nghiên cứu của dự án chỉ giới hạn trong một số xã thuộc lưu vực sông Gâm, sông Quây Sơn, sông Bằng, sông Hiến- những nơi thường xuyên xảy ra TL, LQ-LBĐ. Tuy nhiên khi triển khai dự án, căn cứ vào diễn biến TL, LQ-LBĐ tại các huyện trong những năm gần đây kết hợp với thông tin của Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai Tỉnh về tình hình tai biến, Ban chủ nhiệm dự án đã chủ động đề xuất với Sở KH&CN Cao Bằng điều chỉnh, mở rộng phạm vi nghiên cứu ra tất cả các huyện trong tỉnh.

II. MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN

1. Đánh giá các nhân tố phát sinh, các đặc trưng nguy hiểm của TL, LQ-LBĐ trong vùng nghiên cứu, đồng thời xác định mức độ, quy mô ảnh hưởng đến môi trường và quá trình phát triển kinh tế- xã hội của địa phương.

2. Thành lập được loạt bản đồ  TL, LQ-LBĐ (Hiện trạng, nguy cơ xảy ra, nguy cơ thiệt hại) và bản đồ hướng dẫn sử dụng hợp lý lãnh thổ, làm cơ sở khoa học cho việc sắp xếp dân cư và phát triển kinh tế trong vành đai biên giới và các trung tâm KT-XH tỉnh Cao Bằng.

V. KẾT QUẢ DỰ ÁN

Sau hơn 2 năm thực hiện dự án, các nhà nghiên cứu của Viện địa chất đã tiến hành 3 đợt thực địa để khảo sát, đo vẽ TL, LQ- LBĐ ngoài hiện trường; Sau khi xây dựng các bản đồ hiện trạng, bản đồ đánh giá nguy cơ, đã tiến hành một đợt thực địa kiểm tra vào đầu năm 2009 để cùng các Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão và  Giảm nhẹ thiên tai của từng huyện rà soát, chỉnh lý lại các bản đồ phù hợp với thực tế của địa phương. Dự án đã thành lập được 9 bộ bản đồ cho từng huyện, gồm:

  1. Bản đồ hiện trạng TL
  2. Bản đồ hiện trạng LQ- LBĐ theo các cấp dòng
  3. Bản đồ hiện trạng LQ- LBĐ theo lưu vực
  4. Bản đồ cảnh báo nguy cơ TL
  5. Bản đồ cảnh báo nguy cơ LQ-LBĐ theo các cấp dòng
  6. Bản đồ cảnh báo nguy cơ LQ- LBĐ theo lưu vực
  7. Bản đồ cảnh báo nguy cơ thiệt hại do TL
  8. Bản đồ cảnh báo nguy cơ thiệt hại do LQ- LBĐ
  9. Bản đồ khuyến nghị sử dụng lãnh thổ

Nhằm báo cáo và thông tin kết quả dự án tới các cơ quan quản lý, các đơn vị có liên quan và các huyện, thị của tỉnh Sở KH&CN Cao Bằng đã cùng với nhóm thực hiện dự án tiến hành Hội thảo để báo cáo các kết quả nghiên cứu bước 1 của dự án và kiến nghị một số khu vực cần di dời.

Kết quả nghiên cứu của dự án được trình bày đầy đủ trong báo cáo tổng kết. Trong đó báo cáo đã nêu được 4 vấn đề cơ bản như sau:

1. Tình hình TL, LQ- LBĐ và các đặc trưng nguy hiểm của chúng, phản ánh các nội dung nghiên cứu: Đánh giá tình hình TL, LQ-LBĐ đã xảy ra, Nghiên cứu đánh giá những đặc điểm của TL, LQ-LBĐ.

Báo cáo đã thống kê được trên lãnh thổ Cao Bằng có gần 400 điểm TL lớn nhỏ gồm cả các điểm TL cũ và mới. Chúng có kích thước rất khác nhau và tập trung nhiều nhất ở: Nà Sác, Sóc Hà (huyện Hà Quảng); Thạch Lâm, Nam Cao, Nam Quang, Vĩnh Quang, Vĩnh Phong (huyện Bảo Lâm); Khánh Xuân, Hưng Đạo, Đình Phùng, Bảo Toàn (huyện Bảo Lạc); Ca Thàng, Lang Môn (huyện Nguyên Bình); Chí Viễn, Phong Châu, Cao Thăng (huyện Trùng Khánh); Minh Long, Thắng Lợi, Đức Quang, Đồng Loan, Lý Quốc, An Lạc (huyện Hạ Lang); Trọng Con, Thị trấn Đông Khê, Đức Thông, Kim Đồng, Lê Lai, Thuỵ Hùng (huyện Thạch An); Lương Thiện (huyện Phục Hoà); Cao Chương, Quốc Toản, Quang Trung (huyện Trà Lĩnh); Vĩnh Quang, Ngũ Lão, Đại Tiến, Nam Tuấn, Tương Lương, Bạch Đằng (huyện Hoà An) và Thị xã Cao Bằng.

Căn cứ vào số liệu của các đợt khảo sát thực địa, số liệu điều tra trong nhân dân, số liệu của Ban Chỉ đạo PCLB&GNTT tỉnh, phòng kinh tế tổng hợp các huyện và các tài liệu lưu trữ khác, các nhà khoa học Viện địa chất đã bổ sung, chỉnh lý bản đồ thể hiện rõ LQ- LBĐ thường phát triển mạnh ở các dòng chảy từ cấp 1 đến cấp 3, đôi khi xảy ra ở cả những dòng suối cấp 4. Trong vòng 10 năm trở lại đây, LQ – LBĐ đã xảy ra ở hầu hết các huyện trong tỉnh, với quy mô từ rất yếu đến mạnh, trong đó trận LQ-LBĐ đêm ngày muồng 7 và ngày muồng 8 tháng 6 năm 2001, xảy ra tại huyện Trùng Khánh, Hạ Lang có quy mô lớn nhất và gây thiệt hại nặng nề nhất từ trước đến nay.

Báo cáo cũng đã mô tả đầy đủ hiện trạng TL, LQ- LBĐ ở từng huyện. Một số điểm TL điển hình cũng như một số dòng bị lũ quét đã được mô tả chi tiết với đặc trưng nguy hiểm của chúng. Thành lập được loạt bản đồ hiện trạng TL, LQ- LBĐ làm cơ sở cho các cấp quản lý đưa ra các biện pháp phòng chống và hạn chế tối đa hậu quả do TL, LQ- LBĐ gây ra trên địa bàn các huyện.

2. Cảnh báo nguy cơ TL và LQ- LBĐ, Kết quả của dự án xác định các nhân tố phát sinh TL, LQ- LBĐ và mối tương quan giữa các nhân tố, phân cấp cho mỗi nhân tố để phục vụ cho việc xây dựng các bản đồ cảnh báo nguy cơ TL, LQ- LBĐ cho từng huyện. Trong chương này cũng tiến hành tính: ngưỡng mưa gây lũ quét cho một số lưu vực ở Cao Bằng và thành lập các bản đồ cảnh báo nguy cơ.

3. Cảnh báo nguy cơ thiệt hại do TL và LQ- LBĐ, xác định mức độ chịu tai biến của 4 nhóm đối tượng chịu tai biến chính: Dân cư, nhà ở và các công trình xây dựng khác, đường giao thông, đất. Cảnh báo nguy cơ thiệt hại do TL, LQ- LBĐ cho từng huyện, thể hiện trên bản đồ cảnh báo nguy cơ thiệt hại.

4. Những giải pháp phòng tránh TL và LQ- LBĐ: Các nhà nghiên cứu đã giới thiệu một số giải pháp công trình (gồm việc điều chỉnh các dòng chảy trên mặt, tiêu thoát nước trong lòng đất, gia cố các khu vực TL, điều chỉnh trạng thái ứng suất của các khối đất đá; xây các đập đặc, đập thấu ngăn LQ-LBĐ và xây các đê, kè giữ cho dòng lũ chảy theo hướng và phạm vi vốn có, không lan rộng ra xung quanh) và các giải pháp phi công trình  như: Tăng cường công tác tuyên truyền dưới mọi hình thức, mang tính “phổ biến khoa học” về TL, LQ-LBĐ; Tổ chức đội quản lý và đối phó khẩn cấp với TL, LQ- LBĐ từ huyện tới xã, thôn bản; Lồng ghép việc phòng chống TL với mọi chương trình phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương như chương trình trồng rừng, xoá đói giảm nghèo, định canh định cư, xây dựng cơ sở hạ tầng,..; Xây dựng một số trạm quan trắc TL bằng những thiết bị hiện đại; Thiết lập hệ thống cảnh báo LQ-LBĐ ở thượng nguồn các con sông lớn. Báo cáo cũng nêu ra những nguyên tắc cơ bản thành lập bản đồ hướng dẫn sử dụng hợp lý lãnh thổ.

Kết quả nghiên cứu của dự án đã chỉ rõ những khu vực có nguy cơ cao đến rất cao về TL, các dòng có nguy cơ cao về LQ- LBĐ, đồng thời nêu ra những khu vực có thể bị thiệt hại lớn đến rất lớn ở từng địa phương nếu tai biến xảy ra. Cái mới trong kết quả nghiên cứu của dự án là đã đưa ra cảnh báo nguy cơ thiệt hại trong nghiên cứu tai biến ở địa phương và xác định được các khu vực có thể phát triển KT - XH bình thường, khu vực phát triển có điều kiện (phải áp dụng các giải pháp phòng chống) và các khu vực không nên đầu tư xây dựng. Qua đánh giá nghiệm thu của Hội đồng khoa học tỉnh dự án được xếp loại xuất sắc./.

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HOẠT ĐỘNG THAM MƯU TƯ VẤN

KỶ YẾU KH&CN










Bộ KHCN
Sở hữu trí tuệ

 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 11


Hôm nayHôm nay : 3261

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 79057

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4792314