Trang nhất » Kỷ yếu KH&CN » Tóm tắt ĐT/DA 2006-2010

Chuyển giao công nghệ đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời phục vụ sản xuất và đời sống cho người dân tỉnh Cao Bằng

Chủ nhiệm đề tài: Th.s Nguyễn Văn Trụ
Đơn vị: Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN
Thời gian thực hiện: Năm 2005-2006

 I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Công nghệ làm nóng nước bằng năng lượng mặt trời, từ lâu đã được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới; Cũng đã được sử dụng ở một số tỉnh thành ở Việt Nam, tuy nhiên ở Cao Bằng công nghệ này chưa được phổ biến rộng rãi. Nhận thấy đây là công nghệ thân thiện với môi trường, có triển vọng phát triển và mang lại lợi ích nhiều mặt trong sử dụng, vì vậy Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN, đã đề xuất và chủ trì thực hiện dự án “Chuyển giao công nghệ đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời phục vụ sản xuất và đời sống cho người dân tỉnh Cao Bằng”.

 II. MỤC TIÊU
- Sớm đưa công nghệ năng lượng mặt trời (NLMT) vào phục vụ sản xuất và đời sống tỉnh Cao Bằng, trước hết là công nghệ làm nóng nước bằng NLMT.
- Tạo được nhận thức cho cộng đồng về một nguồn năng lượng thay thế mới, với công nghệ tiên tiến, chưa được phổ biến tại Cao Bằng, với những ưu điểm như rẻ, sạch, an toàn, dễ sử dụng,... góp phần bảo vệ môi trường và hạn chế chặt phá rừng cho nhu cầu đốt.

III. KẾT QUẢ
Dự án đã tiến hành khảo sát và xác định địa điểm lắp đặt thiết bị bao gồm 08 mô hình, trong đó 6 mô hình tại Thị xã Cao Bằng, 1 ở xã Hồng Việt huyện Hoà An, 1 tại Thị trấn Đông Khê huyện Thạch An. Đối tượng lựa chọn để thụ hưởng mô hình là các hộ có nhu cầu sử dụng nước nóng thường xuyên cho sinh hoạt, sản xuất dịch vụ, nằm trong khu đông dân cư, có đường cấp nước lạnh ổn định (có téc, bồn chứa sẵn), mái nhà không bị cớm, dễ nhìn thấy từ xa, tự nguyện tiếp nhận công nghệ mới. Cấu trúc mái - vị trí lắp đặt cũng được xem xét với hai loại: Mái bằng và mái dốc. Thiết bị có thể lắp đặt trên các loại mái.Các mô hình được lắp đặt thử nghiệm trên cả mái bằng và mái dốc, để bảo đảm tính đại diện.

 - Các dàn thiết bị đã được đưa ngay vào sử dụng, hoạt động ổn định, không có sự cố nào xảy ra, cung cấp đủ nước nóng cho sinh hoạt và dịch vụ của các gia đình trong mùa hè - thu. Vậy Công nghệ làm nóng nước bằng NLMT dùng thiết bị SUONENG có giá thành tương đối rẻ, có thể phổ biến được.
- Chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng nhất của công nghệ làm nóng nước bằng NLMT là nhiệt độ nước ở đầu ra của hệ thống và thời gian duy trì nhiệt độ nước trung bình.
Nhiệt độ nước nóng của một số mô hình tại Thị xã Cao Bằng: Qua bảng số liệu cho thấy:
- Các dàn đã lắp đều đạt và vượt chỉ tiêu về nhiệt độ nước.
- Tất cả các dàn đều đã phát huy tốt tính năng ưu việt của công nghệ, phục vụ thiết thực nhu cầu sinh hoạt của các gia đình tham gia thử nghiệm. Thực tế cho thấy với loại 2m2-140 lít bảo đảm nước nóng sinh hoạt cho quy mô gia đình 4-5 người, loại 3m2-200 lít bảo đảm nước nóng sinh hoạt cho quy mô gia đình từ trên 6 người trở lên và thích hợp với các gia đình có nhu cầu nước nóng cho hoạt động sản xuất dịch vụ như chăn nuôi, dịch vụ ăn uống,… ngoài nhu cầu sinh hoạt đơn thuần.
Cả 8 mô hình đều vận hành tốt, đạt được các thông số kỹ thuật của thiết bị, riêng chỉ tiêu nhiệt độ nước có cao hơn số liệu do nhà sản xuất đưa ra.
- Qua theo dõi các mô hình đã đưa vào sử dụng, có thể đánh giá như sau: Ngoài chi phí đầu tư ban đầu (mua thiết bị, phụ kiện, gia công lắp đặt), không mất thêm chi phí cho việc vận hành sử dụng thiết bị. Do có cấu tạo đơn giản, vật liệu kết cấu chắc chắn nên việc bảo dưỡng các chủ hộ hoàn toàn tự thực hiện, sau khi đã được hướng dẫn và không mất chi phí.
- Việc vận hành và sử dụng thiết bị được các hộ ghi nhận là đơn giản, thuận tiện với độ an toàn cao và không gây ảnh hưởng cũng như ô nhiễm môi trường.
Các thiết bị đều được đánh giá là bền trong sử dụng, thời gian duy trì nhiệt độ của nước nóng trong bình bảo ôn đảm bảo được yêu cầu sử dụng trong hè - thu, phù hợp với công bố của nhà sản xuất.
An toàn trong sử dụng và tiết kiệm được thời gian là những ưu điểm lớn của thiết bị làm nóng NLMT.
Do lượng nước được làm nóng bởi thiết bị NLMT là tương đối lớn và không mất tiền năng lượng vì vậy sẽ được sửa dụng cho nhiều mục đích sinh hoạt khác nhau: Tắm rửa, giặt giũ, nấu nướng, làm dịch vụ là những nhu cầu trước đây phải mất tiền điện, củi, than, gas,…
- Các mô hình được đưa vào sử dụng cho thấy có thể tiết kiệm được khoảng 60-70 nghìn đồng/tháng chi phí tiền điện. Ngoài ra còn tiết kiệm chi phí năng lượng khác như củi, than, gas,… Chi phí tiết kiệm được sẽ còn lớn hơn nếu nước nóng được sử dụng triệt để, với hộ có nhu cầu nước nóng càng lớn thì hiệu quả thiết bị càng rõ. Mặt khác với bình điện, không thể sử dụng nước nóng cho các nhu cầu sinh hoạt khác như ở thiết bị NLMT. Để có lượng nước nóng đủ dùng cho mọi nhu cầu sinh hoạt như thiết  bị NLMT, thì chi phí điện năng khi dùng thiết bị điện sẽ còn lớn hơn nhiều. Thiết bị NLMT, ngoài việc đáp ứng nhu cầu tắm rửa, lượng nước nóng nhiều có thể dùng cho nấu nướng, dịch vụ,… góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và tăng thu nhập.
Bước đầu việc sử dụng thiết bị tại Cao Bằng cho thấy mỗi mô hình đã tiết kiệm được từ 30 đến 70 nghìn đồng/tháng cho phí so với việc làm nóng nước bằng các loại năng lượng khác như: Điện, gas, than, củi. Như vậy với 8 bộ thiết bị đã lắp đặt, hàng tháng tiết kiệm trung bình 240-260 nghìn đồng. Hộ tiết kiệm nhiều hay ít tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng nước của từng mô hình, các gia đình sử dụng lượng nước nóng nhiều hơn, chi phí năng lượng tiết kiệm được sẽ lớn hơn.
Như vậy sử dụng thiết bị SUONEN

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HOẠT ĐỘNG THAM MƯU TƯ VẤN

KỶ YẾU KH&CN










Bộ KHCN
Sở hữu trí tuệ

 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 31


Hôm nayHôm nay : 3261

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 79113

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4792370