Trang nhất » Kỷ yếu KH&CN » Tóm tắt ĐT/DA 2001-2005

Ứng dụng một số công nghệ sấy và bảo quản mới để bảo quản chế biến nông sản thực phẩm sau thu hoạch

Chủ nhiệm đề tài: KS. Nguyễn Văn Trụ

          Đơn vị thực hiện: Trung tâm thực nghiệm và chuyển giao KHCN Cao Bằng

          Thời gian thực hiện: 2002

 

           I. Đặt vấn đề

          Trước đây người nông dân cả nước nói chung vẫn làm khô nông sản nhờ bức xạ mặt trời, bằng cách phơi trên sân, trên cót…, nhưng không chủ động, phụ thuộc vào thời tiết lúc mưa, lúc nắng, nên nông sản bị hư hỏng nhiều, gây tổn thất cho người nông dân. Từ những năm 1990, do sản xuất hàng hóa phát triển, năng suất sản lượng nông sản tăng, yêu cầu về chất lượng hàng hóa ngày càng cao, nên đã có nhiều nghiên cứu về công nghệ sấy và bảo quản được triển khai và ứng dụng mang lại hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên tại Cao Bằng chưa có nghiên cứu ứng dụng công nghệ sấy và bảo quản nông sản sau thu hoạch, nên người nông dân vẫn chịu nhiều tổn thất khi bảo quản nông sản sau thu hoạch.

         II. Mục tiêu

          Đề tài được thực hiện với mục tiêu xác định công nghệ sấy và bảo quản phù hợp với điều kiện nông thôn Cao Bằng, đánh giá chất lượng sản phẩm sau sấy và bảo quản.

         III. Kết quả nghiên cứu

          1. Kết quả sấy thử:

          Nguyên liệu để sấy bao gồm: Thóc, hạt dẻ, lá chè đắng, hoa hồi.

          Kết quả sấy thử trên máy sấy SH-50 tại Nà Cáp đạt được công suất vận hành theo hướng dẫn của nhà thiết kế, vận hành đơn giản, năng suất thoát ẩm của máy phụ thuộc vào vật liệu sấy. Đối với hạt dẻ và thóc năng suất thoát ẩm thấp, vì vậy chi phí năng lượng cho 1 kg thoát ẩm cao hơn so với máy sấy tĩnh vỉ ngang. Ngoài ra lại máy sấy này có giá thành cao, công suất thấp, không phù hợp với việc sấy các loại nông sản thông thường. Tuy nhiên công nghệ này có ưu điểm bảo toàn được giá trị sinh học của sản phẩm sấy, như giữ được màu sắc, hương vị, độ nảy mầm của hạt giống và thời gian sấy được rút ngắn hơn so với máy sấy tĩnh vỉ ngang.

          Máy sấy tĩnh vỉ ngang có nhiều ưu điểm hơn như năng suất cao hơn, chi phí cho nhiên liệu rẻ hơn, tuy nhiên so với quy mô nông hộ thì công suất máy lại quá cao và cần có diện tích mặt bằng lớn, do đó loại máy này phù hợp cho vùng sản xuất đại trà, tập trung.

          2. Chất lượng sản phẩm sau sấy và trong quá trình bảo quản

          Với thóc giống đã tiến hành thử tỷ lệ nảy mầm sau khi kết thúc sấy và sau khi bảo quản 1 năm, cho thấy tỷ lệ nảy mầm của thóc giống sau sấy là 96%, sau bảo quản 1 năm 92,5%, so với phương pháp phơi thông thường tỷ lệ nảy mầm sau khi phơi là 96%, sau bảo quản 1 năm là 93%.

          Với lá chè đắng sau khi sấy sản phẩm có màu xám sẫm ở mặt trên, màu xám sáng ở mặt dưới, hương vị nước hãm không khác so với sản phẩm chè túi lọc. Sau thời gian bảo quản 3 tháng sản phẩm không thay đổi về chất lượng, hương vị nước hãm.

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HOẠT ĐỘNG THAM MƯU TƯ VẤN

KỶ YẾU KH&CN










Bộ KHCN
Sở hữu trí tuệ

 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 32

Máy chủ tìm kiếm : 4

Khách viếng thăm : 28


Hôm nayHôm nay : 3261

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 79155

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4792412