Trang nhất » Kỷ yếu KH&CN » Tóm tắt ĐT/DA 1990-2000

Phục tráng giống lúa quế tảo và bao thai lùn

Chủ nhiệm đề tài: Luân Thị Diệp.
 Đơn vị thực hiện: Trung tâm ứng dụng Khoa học kỹ thuật.
 Thời gian thực hiện: 1996.

 I- ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Cao Bằng công tác phục tráng chọn tạo ra giống nguyên chủng đây là lần đầu tiên được thực hiện. Từ trước tới nay việc sản xuất và giữ giống đều do người nông dân tự giữ qua nhiều vụ không được chọn lọc hoặc có chọn lọc cũng chỉ qua loa không đúng với quy trình kỹ thuật do đó đã làm giảm năng suất lúa. Một số giống được Công ty giống cây trồng và các phòng nông nghiệp nhập từ các tỉnh bạn chưa đáp ứng đủ nhu cầu mà giá thành lại cao.

Để khắc phục tình trạng trên và nâng cao chất lượng giống đề tài được tiến hành nhằm giải quyết phần nào về nhu cầu giống lúa cuả tỉnh, tạo điều kiện để nâng cao trình độ sản xuất giống chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật. Người nông dân có điều kiện làm quen với công tác chọn giống.

 II- M ỤC TI ÊU
Tiến hành theo phương pháp chọn lọc cá thể (Phương pháp Sakai theo quy trình sản xuất giống lúa siêu nguyên chủng của trại giống lúa Phú Mỹ thuộc Công ty giống cây trồng Hà Nội.

            - Vụ thứ nhất: Ruộng chọn cây đầu dòng Go.

            Vật liệu khởi đầu từ giống của địa phương đã phân ly thoái hóa nhiều tầng vụ xuân là giống quế tảo và vụ mùa là bao thai lùn. Gieo cấy một dảnh diện tích 500m2. chọn khoảng 500 khóm tốt sau đó loại thải dần còn 200 - 300 khóm để chọn vụ thứ hai.

            - Vụ thứ hai: Ruộng so sánh cây đầu dòng G1: từ 200 - 300 dòng Go đã chọn được ở trên ta đem gieo cấy riêng thành từng dòng có đối chứng. Cây 1 dảnh, giữa các dòng cách nhau 25 - 30cm. Dựa vào các chỉ tiêu theo dõi, loại thải những dòng xấu giữ lại các dòng tốt để gieo cấy cho vụ thứ ba. Chọn khoảng 20 - 30 dòng tốt.

            - Vụ thứ ba: Ruộng so sánh dòng G2 (hậu kiểm).

            Từ 20 - 30 dòng G1 đã chọn được ở trên lại đem gieo cấy riêng thành từng dòng. Cấy 1 dảnh mật độ thích hợp theo dõi các chỉ tiêu quy định rồi loại thải những dòng xấu giữ lại những dòng tốt đồng đều. Chọn khoảng 5 - 10 dòng tốt hỗn lại thành hạt siêu nguyên chủng hỗn dòng (nếu có dòng đặc biệt thì để riêng) từ hạt siêu nguyên chủng thu được ở trên ta đem nhân nhanh để được hạt nguyên chủng.

            * Liều lượng phân bón và chỉ tiêu theo dõi và cách chọn.

            - Liều lượng phân bón:

                        Vụ xuân: 10 tấn P/C + 120N + 60 P2O5 + 60K2O

                        Vụ mùa: 8 tấn P/C + 100N + 60 P2O5 + 60 K2O

            - Các chỉ tiêu theo dõi:

            + Sinh trưởng phát triển: Ngày gieo, ngày cấy, hệ số đẻ nhánh, ngày trỗ, chiều cao cây, dài bông, thời gian sinh trưởng.

            + Các đặc tính chống chịu với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh.

            + Các yếu tố cấu thành năng suất: Số bông/khóm, số hạt/bông, tỷ lệ lép, P1000 hạt

            - Tiêu chuẩn chọn:

            + Chọn cây đúng giống.

            + Có độ đồng đều cao: Những cây đầu dòng phải có từ 5 bông trở lên, chiều cao cây cho phép chênh lệch nhau 1cm, thời gian sinh trưởng cho phép chênh lệch nhau 2 ngày.

            + Có năng suất cao và ổn định.

            + Chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh tốt.

            - Thời kỳ chọn:

            + Giai đoạn mạ: Loại bỏ những cây lẫn, cây xấu, cây ngoài hàng biên.

            + Giai đoạn đẻ nhánh: Chọn cây đẻ sớm, nhanh, gọn và đẻ nhiều.

            + Giai đoạn trỗ chọn những cây trỗ tập trung không trỗ sớm quá hoặc muộn quá.

            + Lúa chín đỏ đuôi: Loại bỏ lần cuối cùng căn cứ vào dạng cây dạng hạt loại bỏ tiếp những cây lẫn giống, cây phân ly, cây cỏ dại và cây sâu bệnh. Thu hoạch gặt đập lấy 75 - 80% số hạt để làm giống, phơi ngay, phơi mỏng vừa và đảo đều.

            + Trong phòng: Chọn lại lần cuối, tính toán năng suất và các chỉ tiêu trong quá trình theo dõi từ đó giữ lại những cây và dòng tốt nhất.
 
 III- KẾT QUẢ THỰC HIỆN
           1) Năm 1996: Chọn Go thực hiện tại Trung tâm ứng dụng KHKT.

            * Vụ xuân: Với diện tích 500 m2 giống quế tảo của địa phương đã bị phân ly nhiều tầng cấy 1 dảnh.

            + Thời gian sinh trưởng: 115 ngày.

            + Chiều cao cây: 94 - 95cm.

            + Số bông/khóm: 5 - 12 bông.

            * Vụ mùa: Diện tích gieo cấy 500m2 với giống bao thai lùn.

            Ngày gieo mạ: 4/6. Ngày cấy: 25/8.

            Tiến hành chọn lọc như vụ xuân chúng tôi đã chọn được 300 dòng có các chỉ tiêu sau:

            +Thời gian sinh trưởng: 164 ngày.

            + Chiều cao cây: 104 - 105 cm.

            + Số bông /khóm: 5 - 8 bông.

           2) Năm 1997: Chọn G1.

            - Địa điểm thực hiện: tại Trung tâm ứng dụng KHKT.

            - Diện tích thực hiện: Vụ xuân: 1000m2. vụ mùa: 1000m2.

            Do các cán bộ kỹ thuật của Trung tâm ứng dụng KHKT kết hợp với học sinh thực tập của trường trung cấp nông lâm thực hiện.

            * Vụ xuân: Dùng các dòng giống quế tảo đã chọn lọc được ở vụ xuân 1996, cấy riêng từng dòng, cấy 1 dảnh, mỗi dòng từ 1 - 5m2. Mật độ 50khóm/m2.

            Qua theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng và kết hợp với việc đánh giá ngoài đồng ruộng chúng tôi đã sơ bộ chọn được 30 dòng cho vụ sau.

            Bảng 1: Các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển và năng suất các dòng giống quế tảo đã chọn vụ xuân 1997.

            Các dòng được chọn ở trên có:

            - Thời gian sinh trưởng từ 114 - 116 ngày.

            - Số dảnh đẻ tối đa thấp nhất là 6,8 dảnh( ở các dòng 20,22,23) và cao nhất hơn là 15,8 dảnh (ở dòng 26).

            - Chiều cao cây từ 90,2cm (dòng 68) đến 98,0cm (dòng 43,22).

            - Chiều dài bông từ 20,6cm (dòng 68) đến 26,8cm (dòng 55).

            - Số bông/khóm thấp nhất la 6,2 bông (dòng 23) và cao nhất 11,8 bông (dòng 68).

            - Tổng số hạt/bông thấp nhất 102,1 hạt (dòng 56) và cao nhất 140,5 hạt (dòng 20).

            - Tỷ lệ lép thấp nhất là 9,6% (dòng 43) và cao nhất là 34,8% (dòng 71). Trọng lượng 1000 hạt là 22g.

            - Năng suất lý thuyết đạt từ 70,6 tạ/ha (ở dòng 23) đến 109,3 tạ/ha (ở dòng 26).

            -Khối lượng hạt thu được của các dòng trên là 35kg.

            * Vụ mùa:

            Dùng các dòng giống bao thai lùn đã chọn lọc được ở vụ mùa 1996 cấy từng dòng tương tự như vụ xuân, cấy theo băng, 1 dảnh mật độ 45 khóm/m2. Điều kiện thời tiết ở đầu vụ muà nhiều lúa bị ngập úng nhưng ít ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lúa. Từ giai đoạn đẻ nhánh đến khi lúa trỗ sâu bệnh ít. Nhưng đến  giai đoạn lúa chín do điều kiện thời tiết nóng ẩm nên bệnh hoa cúc hại nặng ở tất cả các dòng. Ở vụ mùa trong quá trình sinh trưởng phát triển xuất hiện 2 dòng đặc biệt:

            Dòng 71: Bông to, nhiều gié, lá đòng to bản, đẻ khỏe. Về hình thái hơi khác biệt hơn so với các dòng khác.

            - Dòng 90: Bị phân ly nhiều, trỗ không tập trung, thời gian trỗ kéo dài 1 tháng.

            Qua theo dõi sinh trưởng phát triển kết hợp với việc đánh giá ngoài đồng ruộng chúng tôi đã sơ bộ chọn được 23 dòng cho vụ sau. Các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển và năng suất các dòng chọn được thể hiện qua bảng sau:

            Bảng 2: Sinh trưởng phát triển và năng suất các dòng giống bao thai lùn vụ mùa 1997.

            Các dòng được chọn ở bảng trên đều có thời gian sinh trưởng 164 – 165 ngày.

            - Có số dảnh đẻ tối đa thấp nhất là 6,6 dảnh/khóm (dòng 37) và cao nhất là 10 dảnh/khóm (dòng 71).

            - Chiều cao cây thấp nhất là 101,4cm (ở dòng 99) và cao nhất là 118cm (dòng 71).

            - Số bông hữu hiệu/khóm từ 5 bông (dòng 31) đến 7,4 bông (dòng 69).

            - Tổng số hạt/bông thấp nhất là 112,3 hạt (dòng 53) và cao nhất là 149,3 hạt (dòng 19).

            - Tỷ lệ thấp nhất là 10,3% (dòng 95) và cao nhất là 24,7% (dòng 71)

            - Trọng lượng 1000 hạt 23g.

            - Năng suất lý thuyết đạt từ 60,2 tạ/ha (dòng 37) đến 91,4 tạ/ha (dòng 19).

            - Khối lượng hạt thu được ở 23 dòng trên là 50kg. Các dòng được giữ lại ở cả 2 vụ xuân và mùa đều có các đặc trưng tốt, hình thái đồng đều, có khả năng chống chịu, có năng suất cao.

           3) Năm 1998: so sánh dòng G2.

            - Diện tích thực hiện: 2 ha (vụ xuân 1 ha, vụ mùa 1 ha)

            - Địa điểm: Tại trại Trường trung cấp Nông Lâm.

            - Lực lượng thực hiện: Trung tâm kết hợp với trại trường và ban trồng trọt của trường cùng thực hiện.

            Trung tâm chỉ đạo kỹ thuật, giống được giao cho từng công nhân đảm nhận, gieo cây riêng từng dòng.

            Vụ xuân: Dùng các dòng quế tảo đã chọn (30 dòng) ở vụ xuân 1997 gieo cấy riêng mỗi dòng 200 – 500m2.

           Dựa vào các chỉ tiêu theo dõi kết hợp với việc đánh giá ngoài đồng ruộng chúng tôi đã chọn được 6 dòng điển hình. Khả năng sinh trưởng và phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất của 6 dòng đã chọn được thể hiện qua bảng sau:

            Bảng 3: Sinh trưởng phát triển các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các dòng chọn quế tảo vụ xuân 1998.

            Bảng 4: Các chỉ tiêu kiểm tra ngoài đồng và trong phòng của các dòng chọn quế tảo vụ xuân 1998.

            Bảng 5: Sinh trưởng phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các dòng chọn bao thai lùn vụ mùa 1998.

            Bảng 6: Các chỉ tiêu đánh giá ngoài đồng và trong phòng của các dòng chọn bao thai lùn vụ mùa 1998.

 

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HOẠT ĐỘNG THAM MƯU TƯ VẤN

KỶ YẾU KH&CN















 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 23

Máy chủ tìm kiếm : 7

Khách viếng thăm : 16


Hôm nayHôm nay : 2699

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 41076

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6204238