Trang nhất » Kỷ yếu KH&CN » Tóm tắt ĐT/DA 1990-2000

Khảo nghiệm và bình tuyển các giống lúa vụ xuân

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Yêng
Đơn vị thực hiện: Trung tâm thực nghiệm và Chuyển giao KHCN
Thời gian thực hiện: Năm 1998

 I- ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Nước ta Nông nghiệp là 1 trong 2 ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Ngày nay với sự phát triển của KH&CN, vấn đề giống cây trồng của nước ta và tỉnh ta ngày càng được mở rộng và phát triển bởi những ưu thế, lai, chọn tạo. Tuy nhiên công tác khảo nghiệm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo giống mới.Công tác khảo nghiệm bao gồm các thí nghiệm nhằm xác định:

            - Tiềm năng, năng suất của các giống mới so với các giống đối chứng là giống tốt nhất đang hiện hành.

            - Khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận.

            - Khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái Nông nghiệp.

            - Chất lượng của giống và phản ứng của giống với từng điều kiện.

            Vì vậy công tác khảo nghiệm và bình tuyển giống là công việc thường xuyên phải làm của các cơ sở. Để giúp chúng ta xác định được tiềm năng cho năng suất của các giống và mức độ phản ứng của giống trong phạm vi rộng hay hẹp.

            - Cao Bằng là 1 tỉnh miền núi diện tích lúa không nhiều, nhưng năng suất lại thấp, bình quân 32,4 tạ/ha trong đó vụ xuân đạt 36 tạ/ha, vụ mùa đạt 28,8 tạ/ha. Giống lúa còn rất nghèo nàn. Vụ xuân chủ yếu dùng CR 203 và 1 số giống nhập từ Trung Quốc, ngoài ra nông dân còn tự trao đổi giống năm trước cho nhau. Các giống này hàng năm không được chọn lọc, và bình tuyển nên năng suất và chất lượng gạo kém không phù hợp với nhu cầu của sản xuất hiện nay.

 II- MỤC TIÊU
Chọn được giống lúa xuân ngắn ngày, năng suất cao, khả năng chống chịu tốt, chất lượng gạo ngon để phục vụ cho sản xuất.

III- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

            Bảng 1: số liệu khí tượng 1997 -1998.

            Thời kỳ từ khi gieo đến khi lúa đẻ nhánh nắng nóng kéo dài tới 40 ngày nên đã ảnh hưởng phần nào tới sinh trưởng và phát triển của các giống khi bắt đầu trỗ, đến khi thu hoạch mưa liên tục và kéo dài ảnh hưởng tới quá trình thụ phấn của một số giống.

            - Giai đoạn đẻ nhánh trời nắng nóng nhiệt độ bình quân/ ngày quá cao, bón thúc chưa kịp thời. Nhưng do trung tâm có hệ thống tưới tiêu khá ổn định, nên tốc độ đẻ nhánh có ảnh hưởng nhưng không đáng kể.

            - Giai đoạn trỗ: Mưa kéo dài từ khi trỗ đến khi thu hoạch cũng ảnh hưởng tới quá trình hình thành hạt (tỷ lệ lép).

            Bảng 2: Sinh trưởng và phát triển cúa các giống.

            Qua bảng 2 cho chúng ta thấy:

            - Về khả năng đẻ nhánh: các giống tham gia thí nghiệm đẻ nhánh tương đối khoẻ, đều, hệ số đẻ dao động từ 13,1 – 18,5 rảnh/khóm.

            - Về chiều cao cây: các giống có chiều cao trung bình dao động từ 81.7- 104,2 cm (chiều cao cây cho vụ xuân tốt nhất từ 80 – 100cm).

            Trong thí nghiệm này một số giống có chiều cao tốt nhất từ 80 – 100cm là giống DR2, Kim cương 90, Kích quang 92 với chiều cao như vậy phù hơp với điều kiện sản xuất của tỉnh ta.

            - Về trỗ bông: các giống có thời gian trỗ biến từ 70 -75 ngày sau cấy. Giống trỗ sớm nhất là kích quang 92.

            - Về thời gian sinh trưởng: các giống tham gia thí nghiệm có thời gian sinh trưởng trung bình từ 93 – 118 ngày giống có thời gian sinh trưởng ngắn nhất là Kính quang 92, 93 ngày giống có thời gian sinh trưởng dài nhất là P4, 118 ngày.

            Bảng 3: Khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận.

            - Về mức độ nhiễm bệnh khô vằn: hầu hết các giống bị nhiễm nhưng ở mức độ nhẹ và trung bình như Khang dân 18, Kích quang 92, Kim cương 90, DR2, N92 Kim cương 92 các giống nhiễm nhẹ chiếm 66%, nhiễm nặng có P4, x 19, x 20 DT 11 chiếm 34%.

            - Sâu cuốn lá phá hầu hết các giống ở giai đoạn làm đòng nhưng chỉ ở mức độ nhẹ. Do được phát hiện sớm phun phòng và trị kịp thời nên lúa ít bị ảnh hưởng.

            - Bọ xít: xuất hiện vào thời kỳ trỗ đặc biệt các giống trỗ sau như P4, x19, x20, DT 11 lại kèm theo mưa phùn nên đã ảnh hưởng phần nào tới tỷ lệ lép của giống P4 tỷ lệ lép chiếm 69.7%.

            - Tính chống đổ: một số giống có khả năng chống đổ tốt, vụ xuân 1998 khả năng chống đổ chỉ đạt điểm 3 và 5 như giống DR2, Khang dân 18, Kim cương 90, Kích quang 92.

              Bảng 4: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất.

            - Về số bông hữu hiệu/khóm: giống kích quang 92, DR2, có hệ thống đẻ cao nhất từ 18- 18,5 rảnh/khóm. Số bông hữu hiệu trên khóm đạt từ 9.8 -10,1 bông/khóm tỷ lệ giữa hệ số đẻ và bông hữu hiệu chỉ đạt 55% bởi vì 2 giống này đẻ khoẻ nhưng không tập chung. Nên những rảnh đẻ sau thường bị chết do sự cạnh tranh về dinh dưỡng, hoặc trỗ cũng không thoát mỗi bông chỉ vài 3 hạt không được tính bông hữu hiệu. Do vậy tỷ lệ giữa hệ số đẻ và bông hữu hiệu đạt rất thấp. Nhưng bù lại 2 giống này có tỷ lệ hạt lép thấp 10,6% nên năng suất vẫn đạt loại khá.

            Giống đạt số bông hữu hiệu cao nhất là Khang dân 18 vì giống này đẻ khoẻ tập chung, nên tỷ lệ giữa hệ số đẻ với bông hữu hiệu đạt 73%.

            Về tỷ lệ lép: giống có tỷ lệ lép cao nhất là P4,69.7%. Giống có tỷ lệ lép nhất là Kích quang 92, 10,6%.

            - Về tổng hạt /bông: dao động từ 56,5 -104 hạt/ bông giống có số hạt /bông  cao nhất là P4, vào Kim cương 90 nhưng các giống này có tỷ lệ lép rất cao như P4,69.7%.

            1 số giống có tổng hạt /bông trung bình như kích quang 92 DR2, Khang dân 18 nhưng có số hạt chắc /bông cao nên năng suất vẫn đạt loại khá.

            - Về năng suất:

            + Năng suất lý thuyết: dao động từ 3,4 -7,8 tấn /ha giống có năng suất đạt cao nhất là khang dân 18 đạt 7,8 tấn /ha vì giống này có các yếu tố cấu thành năng suất đạt tương đối tốt như số bông /khóm 10,8, tỷ lệ hạt chắc /bông 82,3%, tỷ lệ lép chỉ có 18,2%, trọng lượng P 1000 hạt đạt khá. Nên năng suất đạt cao hơn so với đối chứng là 77,2%.

IV- KẾT LUẬN

            + Từ 10 giống tham gia thí nghiệm khảo nghiệm và 1 giống đối chứng qua các chỉ tiêu theo dõi ngoài đồng và trong phòng. Chúng tôi đã chọn được 4 giống phù hợp với điều kiện địa phương vì các giống này có 1 số ưu điểm nổi bật như:

- Có hệ số đẻ tương đối cao.

- Khả năng chống chịu tốt.

- Có chiều cao cây trung bình 81 -100cm.

- Có thời gian sinh trưởng trung bình 93 -110 ngày.

- Có năng suất đạt từ 4,2 -5,2 tấn/ha.

Các giống tham gia thí nghiệm đều là giống phản ứng trung tính với ánh sáng nên cấy được vụ xuân và vụ mùa.

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HOẠT ĐỘNG THAM MƯU TƯ VẤN

KỶ YẾU KH&CN










Bộ KHCN
Sở hữu trí tuệ

 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 30

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 27


Hôm nayHôm nay : 1821

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 58968

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5606499