Trang nhất » Kỷ yếu KH&CN » Tóm tắt ĐT/DA 1990-2000

Cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp tỉnh Cao Bằng

Chủ nhiệm đề tài: Ks Mã Quốc Biền 
Đơn vị thực hiện: Ban Tổ chức Tỉnh uỷ
Thời gian thực hiện: 1993 -1995

I - ĐẶT VẤN ĐỀ
Năng lực và sức chiến đấu của Đảng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ Đảng nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt nói riêng. Bác Hồ đã nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Điều đó có nghĩa là cán bộ quyết định trong việc thực hiện đường lối của Đảng, quyết định sự thành bại của đường lối chính sách đó. Tư tưởng của Bác Hồ về cán bộ: Hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ, thương yêu, phê bình cán bộ đòi hỏi chúng ta phải xây dựng một cơ chế đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ như thế nào cho đúng, đưa vào những tiêu chuẩn nào để xây dựng được một đội ngũ cán bộ đáp ứng được mọi yêu cầu của sự nghiệp cách mạng.
Cao Bằng là tỉnh miền núi biên giới, nhiều dân tộc nền kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí còn thấp… đòi hỏi cán bộ chủ chốt các cấp không những phải vững vàng về tư tưởng chính trị mà còn phải có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có kiến thức về dân tộc, tôn giáo, tâm lý, tập quán của từng dân tộc.
Lâu nay những vấn đề về cơ cấu và tiêu chuẩn của người cán bộ chủ chốt các cấp của tỉnh Cao Bằng vẫn chưa được chú ý và đang là loại đề tài rất khó đối với một tỉnh biên giới. Yêu cầu cấp bách là tập trung nghiên cứu một cách toàn diện nhằm góp phần tìm ra những căn cứ lý luận cũng như thực tiễn của công tác cán bộ các cấp. Xây dựng được đội ngũ cán bộ chủ chốt ngang tầm với nhiệm vụ mới giúp cho cấp uỷ và chính quyền các cấp có những chủ trương biện pháp sát đúng trong công tác cán bộ, chỉ ra xu hướng biến động của đội ngũ  cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, có biện pháp đồng bộ về chiến lược cán bộ của tỉnh ta.

II - MỤC TIÊU, NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
1. Mục tiêu:
- Làm rõ những căn cứ lý luận của Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
- Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong tỉnh Cao Bằng về các mặt phẩm chất chính trị, đạo đức tâm lý. Trong đó có nét đặc thù của cán bộ người dân tộc.
- Chỉ ra mô hình người cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp thông qua việc xây dựng cơ cấu và tiêu chuẩn của người cán bộ lãnh đạo.
- Dự báo xu thế phát triển của đội ngũ cán bộ này, xây dựng đề án qui hoạch đội ngũ cán bộ, biện pháp trước mắt và lâu dài về công tác cán bộ.
2. Nội dung:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác cán bộ
- Khảo sát đánh giá thực trạng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp hiện nay về phẩm chất đạo đức, chính trị, năng lực trí tuệ và tổ chức của họ.
- Xác định những yêu cầu thực tiễn và kiến nghị những tiêu chuẩn cán bộ của người cán bộ lãnh đạo.
- Dự báo xu thế biến đổi của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt.
- Xây dựng đề án qui hoạch cán bộ cho tỉnh Cao Bằng từ nay đến năm 2010.

IV- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1- Về nghiên cứu lý luận: Để nghiên cứu và tổ chức thực hiện đề tài KX 05-11-07 đã xây dựng 20 báo cáo chuyên đề thuộc phạm vi đề tài. Các báo cáo chuyên đề đã được các tác giả dày công nghiên cứu, nhiều tác phẩm thể hiện tính khoa học cao.
Các tiêu đề tiêu biểu như về tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách người cán bộ lãnh đạo quản lý của PTS.Nguyễn Ngọc Thanh. Chuyên đề nhấn mạnh vai trò cán bộ trong mọi công việc, do đó suốt đời Hồ Chủ Tịch đã hết lòng chăm lo xây dựng và rèn luyện bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, một đội ngũ đoàn kết nhất trí, trung thành với Chủ nghĩa Mác – Lê nin, với Tổ quốc Việt Nam, có tính cách mạng cao và năng lực công tác tốt đủ khả năng đảm đương và hoàn thành nhiệm vụ lịch sử trước Đảng và trước nhân dân.
Nhân cách bao gồm cả đức và tài. Người xem “Đạo đức cách mạng” là nền tảng, là tiêu chuẩn số một đối với người lãnh đạo quản lý. Người yêu cầu “Mỗi cán bộ Đảng viên mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình sửa chữa như mỗi ngày rửa mặt”.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, mỗi cán bộ lãnh đạo quản lý không những giỏi về kiến thức chuyên môn, tiếp thị, kinh doanh mà cả đạo đức cách mạng cũng cần được nâng cao không ngừng.
Về mặt trí tuệ của người cán bộ lãnh đạo quản lý, trước hết là sự tìm hiểu sâu sắc Chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ nắm vững lý luận Chủ nghĩa Mác – Lênin để vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
* Một số vấn đề về tiêu chuẩn của người cán bộ lãnh đạo
- Về tiêu chuẩn cán bộ nói chung: Cán bộ lãnh đạo quyết định mọi công việc, vì thế lựa chọn và đánh giá cán bộ luôn là việc của công tác cán bộ. Lênin nói: “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không tạo ra được trong hàng ngũ của mình, những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức lãnh đạo phong trào” và “nghiên cứu con người, tìm ra những cán bộ có bản lĩnh hiện nay đó là then chốt”, nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn”. Ngoài ra người cán bộ lãnh đạo cần có:
- Những yêu cầu về phẩm chất chính trị
- Những yêu cầu về kiến thức và năng lực chuyên môn.
2- Về thực trạng cơ cấu và tiêu chuẩn của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong tỉnh Cao Bằng.
- Đặc điểm tự nhiên – xã hội tác động đến mẫu hình người cán bộ miền núi Cao Bằng. Thạc sĩ triết học – Hoàng Quang Lâm đã nghiên cứu, tác giả nêu lên đặc điểm KT-XH, sự tác động hình thành mẫu hình người là cán bộ chủ chốt ở Cao Bằng; phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt hiện nay ở Cao Bằng.
- Thực trạng tiêu chuẩn đội ngũ cán bộ cấp huyện, qua điều tra có 75,6% số cán bộ được hỏi về sự tin tưởng ở đường lối đổi mới của Đảng và con đường Bác Hồ đã chọn cho cách mạng Việt Nam, có 23,8% còn băn khoăn.
- Đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng cán bộ công chức; phương hướng giải pháp đào tạo bồi dưỡng cán bộ cấp xã phường.
Nghị quyết Đại hội VII “Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bổ sung hành chính, kiện toàn các cơ quan pháp luật để thực hiện có hiệu quả quản lý nhà nước”. Trọng tâm cải cách nhằm vào hệ thống hành chính với nội dung chính là xây dựng một hệ thống hành pháp và quản lý hành chính Nhà nước thống nhất từ TW tới cơ sở, có đầy đủ quyền lực, năng lực và hiệu lực.
Sự chuyển đổi cơ chế dẫn đến sự cải cách. Qua cải cách chế độ tiền lương (1993) xây dựng chức danh tiêu chuẩn công chức, để xếp vào ngạch chuyển đổi tương ứng với trình độ thì một vấn đề nổi lên đó là yêu cầu về trình độ chưa đạt theo tiêu chuẩn qui định.
Qua khảo sát ở Cao Bằng thì thực trạng đội ngũ công chức tỉnh ta được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, không được đào tạo kiến thức quản lý Nhà nước, quản lý hành chính, pháp luật chu đáo. Quá trình tuyển dụng bổ nhiệm chưa theo một qui trình khoa học, chính quy. Chưa hết lòng vì công vụ trước dân.
Đội ngũ chuyên viên chính: 37/186 chuyên viên chính cần được đào tạo chương trình đại học (chiếm 19,8%). 173/186 (93%) cần đào tạo kiến thức quản lý Nhà nước, theo chương trình của Học viện Hành chính Quốc gia.
Về ngoại ngữ: 140/186 cần đào tạo trình độ A ngoại ngữ.
                      21/186 cần đào tạo trình độ B ngoại ngữ.
Cùng với Học viện hành chính Quốc gia, Trường Đảng tỉnh và Trung tâm giáo dục thường xuyên cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức của tỉnh để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ mới.
3- Quy hoạch  sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tỉnh Cao Bằng thời kỳ (1995 – 2010)
Đội ngũ đó bao gồm cán bộ lãnh đạo Đảng, quản lý Nhà nước và đoàn thể quần chúng; cán bộ quản lý kinh doanh, chuyên viên chính và chuyên viên.
Từ thực trạng về đội ngũ cán bộ hiện nay của tỉnh: Khảo sát 33 chức danh với 4.609 đối tượng cán bộ (điều tra 1995): Về tiêu chuẩn, chất lượng, nguyên nhân của thực trạng đội ngũ cán bộ.
* Những định hướng cơ bản về tiêu chuẩn cơ cấu cán bộ:
- Trình độ văn hoá: Các chức danh từ giám đốc Sở, Chủ tịch huyện, chuyên viên chính hiện có 94% trình độ văn hoá cấp 3, đến năm 2000 và 2010 phải đạt 100%. Bí thư, Chủ tịch xã (1995) có 32 – 35 %, trình độ văn hoá cấp 3, đến năm 2000 phải có 45% và 2010 có 55%.
- Trình độ chuyên môn: Đến năm 2000, giảm đáng kể số lượng cán bộ không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với công việc được giao. Tăng số cán bộ có trình độ đại học đối với chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý Nhà nước ở cấp tỉnh và chủ chốt ở cấp huyện thị. Trên các lĩnh vực công tác lãnh đạo, nghiên cứu, quản lý có trình độ PTS, TS.
- Trình độ lý luận: Đến 2000 và 2010 đỏi hỏi đội ngũ cán bộ có trình độ lý luận trung cấp và cao cấp rất lớn.
Ví dụ: Giám đốc Sở từ 57,9% (1995) lên 90% và 100% lý luận cao cấp.
         Chuyên viên chính từ 3,3% hiện này lên 50% và 70% lý luận cao cấp.
         Chủ tịch huyện 30,8% hiện nay lên 54% lý luận cao cấp.

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HOẠT ĐỘNG THAM MƯU TƯ VẤN

KỶ YẾU KH&CN















 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 12

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 11


Hôm nayHôm nay : 4084

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 86126

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6116728